Thứ Sáu, 12 tháng 3, 2021

1 ngày O Facebook ! (R)

 

*** Truyện......giả tưởng : Một ngày không Facebook !
Gần đây, gã đọc được nhiều bài báo nói về sự phụ thuộc quá lớn của con người vào điện thoại, vào máy tính, vào mạng xã hội; rằng không có điện thoại, không có máy tính, không có Phây thì con người khó mà sống nổi; và rằng những thứ đó vô tình làm cho con người ta lười tiếp xúc với nhau, ngày càng xa cách nhau. Gã không tin mấy bài báo đó! Họ cứ viết quá lên chứ làm gì đến mức ấy! Để chứng minh cho quan điểm của mình, gã quyết định tắt điện thoại, không dùng máy tính, không vào Phây trong vòng 1 ngày. Rồi mọi người sẽ thấy, không có mấy thứ đó thì gã vẫn sẽ sống bình thường, thảnh thơi, như bụi sim mọc trên đồi, như đàn chim bay trên trời.
Đúng chính ngọ (tức 12 giờ trưa), gã tắt điện thoại, tắt máy tính, và leo lên giường đánh một giấc ngon lành. Gã mơ mình đi lạc vào một thế giới không điện thoại, không máy tính, không Internet. Ở đó, muốn tán tỉnh một ai đó, người ta phải viết thư tay làm quen, rồi rình rập, đứng chờ cả nửa ngày trước cổng trường, đợi người đó tan học mới có thể đưa thư. Ở đó, khi nhớ và muốn nói chuyện với ai đó, thì không còn cách nào khác là phải đến tận nhà mà tìm gặp, và khả năng phải lủi thủi quay về là 50/50, bởi chẳng ai dám chắc rằng lúc đến tìm thì người đó sẽ ở nhà. Ở đó, để nhớ sinh nhật của ai đó, người ta phải ghi ra giấy, dán lên tường và tự nhắc nhở mình. Ở đó, mỗi khi chia tay, tiễn biệt một người thân thiết đi xa, thì kẻ ở lại vẫn ngã nhủ kẻ ra đi bằng một giọng thiết tha: “Nhớ viết thư và gửi ảnh về nhé!”.
Khoảng 4 giờ chiều thì gã ngủ dậy, người vẫn lâng lâng bởi cái cảm giác thú vị của cái thế giới trong mơ ấy vẫn còn vương vấn. Gã lấy xe máy, phóng ra sân bóng. Gã thấy thoải mái và nhẹ nhàng quá! Bởi trong túi quần gã không còn phải nhét cái điện thoại u lên thành một cục răn rắn, cọ vào xương hông nhoi nhói; gã cũng không còn phải lo tí tí lại chạy tới chỗ cái điện thoại kiểm tra tin ngã, cuộc gọi lỡ, hoặc xem có comment nào mới về cái bức hình gã up lên Phây đêm qua.
Sáng hôm sau, gã ngủ nướng đến 9 giờ, rồi dậy ôn lại chút bài vở, chuẩn bị cho bài kiểm tra thi nâng ngạch buổi chiều. Ăn cơm xong, gã nghỉ ngơi chút rồi phi xe đến cơ quan. Quái lạ, sao cơ quan vắng tanh, không một bóng người? Gã vội chạy vào dãy nhà nhân viên hỏi mấy thằng bạn thì mới biết rằng: vì sếp có việc bận nên đã đẩy lịch từ buổi chiều lên buổi sáng, tức là bài kiểm tra nâng ngạch đã làm vào sáng nay rồi. Sếp đã thông báo cho cả cơ quan qua điện thoại, cả trên Phây, ai cũng biết, chỉ mình gã là không.
Thôi xong, không có bài kiểm tra nâng ngạch thì khả năng học lại là cực cao. Gã lắc đầu thở dài ngao ngán. Rồi gã quyết định phóng xe vào phòng trọ của gấu. Không hiểu sao những lúc bức xúc, khó chịu thì gã lại nhớ đến gấu. Bởi lần nào gặp gấu, những bức xúc, bí bách trong người gã đều được xả, được phun ra hết, khiến gã thấy rất thoải mái và dễ chịu.
Đến xóm trọ của gấu, gã tắt máy, dắt xe rất nhẹ nhàng – vì đang là giờ nghỉ trưa, gã sợ làm ảnh hưởng mọi người. Nhưng vừa dựng xe trước cửa phòng gấu, gã đã thấy có dấu hiệu bất thường. Cửa phòng gấu đóng kín, nhưng bên trong phòng nghe có tiếng vật lộn uỳnh uỵch rất quyết liệt, rồi cả tiếng kêu ư ử, ư ử rất thảm thiết, hệt như tiếng kêu của ai đó lúc bị bóp cổ vậy. Chết cha, vậy là phòng gấu có trộm rồi. Chắc bị gấu phát hiện nên thằng trộm đang vật lộn tấn công và bóp cổ gấu. Gã còn nhìn thấy trước cửa phòng gấu có một đôi giầy da mới coóng, sáng bóng. Thằng trộm này thật là có văn hóa! Nó vào nhà người ta ăn trộm mà còn lịch sự bỏ giầy ở ngoài nữa!
Không còn thời gian để lưỡng lự, gã xông tới, đạp cửa cái “phành”, rồi lập tức ập vào. Quả đúng như gã dự đoán, gấu gã và thằng trộm đang vật nhau quyết liệt trên giường. Có lẽ vì vật nhau dữ dội quá nên quần áo của cả hai đã tuột hết ra, từ đầu đến chân không mảnh vải che thân. Tiếng ư ử kia thì đúng là tiếng kêu của gấu, chỉ khác một điều là thằng trộm đó không bóp cổ gấu, mà lại đang bóp vú. Lạ thật! Bị bóp vú mà gấu gã lại không thể hét to được, cổ họng cứ ư ử, nghẹn ứ như bị bóp cổ.
Đang hung hăng vật nhau là thế, ấy vậy nhưng thấy gã xông vào thì mặt thằng trộm bỗng tái mét, rồi nó vùng dậy, lao vụt ra ngoài, bỏ cối chạy lấy chày. Còn gấu gã thì không giấu nổi vẻ hốt hoảng, nàng quỳ phục xuống giường, mồm khóc lóc, miệng van xin, rất thảm thương:
- Anh ơi! Em xin lỗi! Em không cố ý!
Tai gã ù đi, còn miệng gã thì gào lên:
- Tại sao? Tại sao lại vậy hả?
- Tại anh! Tại anh hết! – Giọng gấu gã nghẹn ngào trong nước mắt.
- Sao lại là tại tôi? Cô nói đi!
- Tại mọi lần, trước khi qua, anh đều gọi điện báo trước, sao hôm nay anh lại không gọi? Nếu anh gọi trước thì đã không xảy ra cơ sự này! Tại anh! Tại anh hết!
Gã không thể, và không muốn nghe thêm gì nữa. Gã nhảy lên xe, phóng như điên ra ngoài, rồi rẽ về phía hồ. Gió hồ mát rượi thốc vào mặt khiến gã nhẹ lòng và bình tĩnh lại đôi chút. Gã dừng xe tại một quán vỉa hè, gọi một cốc trà, rồi cứ vậy ngồi nhìn ra mặt hồ xa xa bằng ánh mắt cô đơn, vô hồn. Bỗng, một chiếc SH mới tinh, còn chưa kịp đăng ký biển, đỗ xịch trước mặt gã. Dù đang rất buồn thì gã vẫn không thể không ngạc nhiên khi thấy người ngồi trên chiếc xe SH long lanh đó chính là thằng Sang – bạn thân gã.
- Xe ai mà đẹp thế? Con Wave ghẻ đâu rồi? – Gã sửng sốt hỏi.
- Wave ghẻ đã bán đồng nát, giờ đành đi tạm Ét-Hát! Mới mua sáng nay đấy!
- Tiền đâu mà mua?
- Trưa hôm qua tao nằm mơ đưa người yêu cũ đi nhà nghỉ. Tỉnh dậy, nhớ lại toàn bộ giấc mơ, tao phi ra quán phang luôn con đề 69 và 96, phang hẳn 2 củ. Tối trúng luôn!
- Thằng chó! Có số đẹp mà không rủ tao!
- Tao gọi bảo mày, nhưng không liên lạc được, ngã cả trên Phây mày cũng có trả lời đâu!
Đang buồn vì chuyện gấu, nghe thằng Sang nói, gã lại càng thêm tiếc hùi hụi. Tưởng là về nhà sẽ vui, ai ngờ, vừa bước chân vào cửa, gã đã thấy đồ đạc ngổn ngang, bát đĩa vỡ tung tóe trên sàn, ở phía góc bàn, bố gã ngồi ôm mặt khóc rưng rưng…
- Sao vậy bố? Có chuyện gì? – Gã hỏi bố bằng giọng thảng thốt.
- Hôm nay là sinh nhật mẹ mày! Bố có hứa là sinh nhật mẹ thì bố sẽ đưa mẹ đi mua váy. Nhưng bố quên mất!
- Thế chiều nay bố làm gì mà không về đưa mẹ đi?
- Con chó nhà chú Bải bị ốm, bố qua giúp chú ấy làm thịt và oánh tiết canh!
- Nhưng mọi năm, làm gì thì làm, bố vẫn nhớ sinh nhật mẹ mà?
- Mọi năm bố nhớ là nhờ Phây nó nhắc! Còn năm nay, đúng đợt sinh nhật mẹ mày thì Internet ở phòng bố bị trục trặc, không vào Phây được! Tình hình căng lắm con ơi! Mẹ mày đã viết đơn ly dị, và đã ký sẵn rồi đây này!
- Bố đừng lo! Ly dị phải có lý do chính đáng thì tòa người ta mới nhận! Chẳng lẽ mẹ lại viết lý do ly dị là vì chồng tôi quên sinh nhật tôi à?
- Không đâu con! Mẹ mày viết trong đơn rằng lý do mẹ muốn ly dị là vì bố coi mẹ không bằng con chó!”.
Gã chạy vụt lên phòng, cuống cuồng bật máy tính và mở điện thoại. Gã sợ rồi, gã sai rồi, gã tin những gì mấy bài báo đó viết rồi! Chỉ hơn một ngày không điện thoại, không facebook thôi mà gã đã phải học lại, rồi bị gấu cắm sừng, rồi bị mất một con SH, rồi đối mặt với cảnh bố mẹ ly dị, gia đình tan nát. Gã không hiểu nếu gã tắt máy tính, tắt điện thoại thêm vài ngày nữa thì những điều khủng khiếp gì sẽ xảy đến với gã nữa đây? Rồi gã tự hỏi, cách đây khoảng mười lăm, hai mươi năm, hồi mà chưa có điện thoại, chưa có facebook, chưa Internet, sao người ta vẫn có thể sống vui vẻ và bình yên được nhỉ ? (cre : Đinh Long)./.
------------
Cre : Đinh Long.


Thứ Hai, 1 tháng 3, 2021

Tiền nhiều để làm gì ? (R)

 *** ĐỂ LÀM GÌ ?

Một anh thổ dân Mexico đang ngồi câu cá thì gặp một khách du lịch Mẽo, vị này ân cần hỏi thăm anh bạn mới quen :
– Một ngày thế này anh câu có được nhiều không ?
– Cũng không nhiều lắm, vài con cá, đôi khi bắt được rùa hoặc tôm.
– Để bắt được chừng ấy thứ anh mất bao lâu ?
– Khoảng một buổi sáng hoặc một buổi chiều là xong.
– Thời gian còn lại anh làm gì ?
– Tôi chơi với các con, phụ nấu ăn cho vợ. Tối vào làng uống bia với các bạn. Thế là hết một ngày.
– Sao anh không câu cả ngày ?
– Cần gì! Như thế này là đủ cho cả nhà tôi trong một ngày rồi.
– Nghe này, tôi đã tốt nghiệp MBA ở Harvard và hiện là một nhà kinh doanh thành đạt. Tôi có gợi ý thế này nhé... Thay vì câu chỉ một buổi, anh hãy thử dành cả ngày để câu xem. Như thế, ngoài số cá đủ ăn, anh sẽ có cá dư để bán.
– Để làm gì ?
– Để anh có tiền. Mỗi ngày một ít, dần dần anh sẽ tích lũy đủ tiền thuê người khác câu cho anh, còn anh thì đứng ra buôn bán với khách hàng.
– Để làm gì ?
– Thì như thế chẳng mấy chốc anh sẽ có nhiều tiền hơn. Anh có thể mua một con tàu. Nhờ con tàu, anh có thể đánh bắt được nhiều hải sản có giá trị hơn, và lại làm ra nhiều tiền hơn.
– Rồi làm gì tiếp theo ?
– À. Anh có thể sang Mỹ, mở công ty hoặc buôn chứng khoán. Như vậy thì anh có thể kiếm được lợi nhuận hàng trăm nghìn đôla mỗi năm.
– Thế tôi phải mất bao lâu để được như thế ?
– Khoảng 20 đến 30 năm gì đó, tùy mức độ khôn ngoan và cả may mắn của anh – vị khách Mẽo tính toán.
– Giàu như thế thì tôi được gì ?
– Trời ơi anh ngốc thế ! Có tiền là có tự do, lúc đó, anh sẽ không phải làm gì cả, chỉ việc du lịch đến một hòn đảo nào đó, tận hưởng cuộc sống: sáng thì đi câu, chiều chơi với con và giúp vợ nấu ăn, tối vào làng uống bia. Thế không phải là mục đích sao ?
– Như tôi đang sống bây giờ chứ gì ?!?!


Bình luận

Thứ Bảy, 27 tháng 2, 2021

Nên xem.....nhân ngày 8-3 !

 

*** Lời khuyên quý báu hơn.................................................................................... Ở Pháp, khi đi trong thành phố, tôi chỉ toàn đi xe buýt cho tiện lợi, (phần thì có thời gian ngắm cảnh sinh hoạt bên đường).
Thường xuyên, tôi gặp 1 thanh niên có vóc dáng nhỏ con, người Á Châu, gương mặt buồn bã, thất thểu, cứ âm thầm lên xuống xe buýt rồi cứ lầm lũi bước đi như đi giữa sa mạc, mùa hè cũng như mùa đông.
Một ngày, tôi cố tình xuống cùng trạm và đi song song, rồi tôi quay ra hỏi câu tiếng Pháp
"Cháu là người Việt Nam?".
Thanh niên trả lời lại bằng tiếng Việt:
"Dạ chào cô, con người Việt Nam ạ".
Rồi hỏi thăm qua lại, biết cháu tên Huynh, 30 tuổi, bệnh tâm thần, cô độc.
Thương tình, nên khi mùa đông, tôi mời đến nhà ăn mỗi tối tại nhà con trai tôi.
Qua tâm sự, biết Huynh khi còn trẻ, đã theo băng đảng phá phách ở Marseille đâm chém nhau, bị ở tù 5 năm.
Khi ra tù, về VN thăm cha, ông nội, nhưng bị cô chú mắng chửi, khinh bỉ vì đã đi 15 năm rồi nay trở về không có 1 xu và bị cô chú đuổi ra khỏi nhà. Huynh đành trở lại Pháp trước dự định.
Về Pháp, do bị sốc, bị trầm cảm, Huynh đánh ông chồng của mẹ, chuyển đến vùng tôi ở, cắt đứt liên lạc với mẹ.
Sau khi được điều trị trong bệnh viện tâm thần một thời gian, đã ổn định, được chính phủ Pháp cấp 1 nơi ở tiện nghi nhưng không cho mẹ biết vì còn tự ái, giận mẹ.
Nghe xong hết tâm sự, tôi hỏi Huynh :
- Khi con đi tù, ai là người thăm ?.
- Dạ mẹ.
- Tuần mấy lần ?
- Dạ 3 lần
- Mẹ thăm cho gì?.
- Dạ tiền, vì không cần đem đồ ăn, chỉ cần tiền để thuê truyền hình, chơi game hoặc dụng cụ cần thiết.
- Ngoài mẹ, có ai thăm con không?.
- Dạ không
Sau khi hỏi xong, tôi kết luận:
- Cô không biết mẹ con là ai, nhưng nghe con kể, cô quả quyết là mẹ con là người có trái tim nhân hậu hơn cô nhiều lắm, vì nếu con cô mà như thế, thì cô sẽ bỏ luôn, chẳng thăm nom làm gì, chứ đừng nói đến cho tiền, cho sống cực khổ mới biết thân..., Hơn nữa, cô thường đi ngang trước cửa nhà tù, cô thấy người thân đến thăm chờ ở cửa nhà tù, thấy tội lắm, mùa hè thì nắng, vì ở đó không có cây, bóng mát, mùa thu gió, mưa rả rích, mùa đông lạnh lẽo, chưa kể là xe cộ qua lại, mọi người thấy mặt, thật xấu hổ....! Bây giờ mới biết trong số đó, có mẹ con, cô thương cho mẹ con quá, con cho cô số diện thoại địa chỉ, để cô kết bạn.
Huynh trố mắt nhìn tôi. Tôi nói tiếp :
- Cô chỉ mới cho con ăn có vài bữa ăn tối mà con nói "cảm ơn", khen cô là 1 người nhân hậu. Trong khi mẹ con khổ biết bao nhiêu vì con, thì con lại không cần biết đến.
Bây giờ con có tiền (tiền trợ chính phủ Pháp cấp cho người bệnh là 30 triệu đồng/tháng) dư dả, sống thoải mái, có nơi ở tiện nghi, thì lại phủi tay, không cho mẹ biết tin tức về con.
Con có biết mẹ trông mong tin con từng ngày không?. Cô cứ suy ra cô: chỉ 1 ngày không gặp con cô, là cô nóng ruột, phải điện thoại hỏi thăm. Huống chi con đã không cho mẹ tin tức đã 1 năm nay, con có biết là hàng đêm mẹ con khóc thầm không?
Gương mặt Huynh bắt đầu thay đổi: Bây giờ con phải làm gì?.
Tôi bày cho Huynh:
Lễ Giáng Sinh sắp đến, con gọi điện thoại xin lỗi, hỏi thăm và hẹn gặp mẹ. Ngày gặp, nhớ mua 1 món quà mà mẹ ưa thích, mẹ không cần gì của con đâu, nhưng gọi là tấm lòng của con. Trước khi ra về hỏi mẹ là: mẹ cần tiền, con đưa cho mẹ xài...! Con hỏi vậy cho mẹ vui lòng, an tâm là con có tiền sống thoải mái thôi chứ cô tin là mẹ con có lương hàng tháng, không cần tiền con đâu (vì những người bệnh ở Pháp có tiền trợ cấp sống dư dả)
Vài tuần sau gặp lại Huynh, với gương mặt tươi tỉnh, khác hẳn thời gian trước, miệng tủm tỉm cười kể là đã điện thoại xin lỗi mẹ, rồi từ đó, Huynh gọi điện thoại và gặp mẹ thường xuyên.
Huynh thú nhận rằng: thời gian trước, một phần lớn buồn khổ là do không gặp mẹ, nhưng cộng thêm vào đó là giận mẹ, nên không muốn gặp. Từ khi tôi giải thích và chỉ cách, nên Huynh tìm được lối thoát...!
Rồi một ngày, tôi gặp được mẹ Huynh, bà ta rươm rướm nước mắt, nắm tay tôi cảm ơn tôi rối rít.....!
Câu chuyện thật sự là thế đấy bạn ạ.
Qua đó, tôi nhận ra rằng: Giúp người, không chỉ cứ là vật chất mà lời khuyên nhiều khi lại quý giá hơn nhiều.
Hãy dành chút thời gian lắng nghe và cho lời an ủi, khuyên bảo với những người thiếu may mắn nhiều khi quan trọng hơn rất nhiều so với việc ta cho họ một số tiền.
Bài: Nguyen Thi Ha Lieu (Việt kiều Pháp)


Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2021

Nho giáo :

 Nguồn gốc của Nho giáo

Nho giáo bắt nguồn từ thời thái cổ ở nước Tàu. Thuở đó, vua Phục Hy, là một Thánh Vương đắc đạo, trông thấy được các hiện tượng trong cõi Hư linh. Ngài nhìn thấy Long Mã có bức đồ trên lưng gồm những chấm đen trắng, nổi lên giữa sông Hoàng Hà, mà biết được lẽ Âm Dương, chế ra Tiên Thiên Bát Quái, cắt nghĩa sự biến hóa của Trời Đất để làm nguyên tắc dạy người. Những vạch đơn giản của Bát Quái ấy được xem là đầu mối của văn tự  về sau này.

Vua Phục Hy lại còn dạy dân nuôi súc vật để sai khiến, làm lưới để đánh cá, nuôi tằm lấy tơ làm quần áo, chế đàn cầm đàn sắt, dạy dân lễ nghĩa, phép cưới vợ gả chồng (dùng một đôi da thú làm lễ, vì ở thời kỳ ngư lạp, da thú là quí), từ đó  mới có danh từ gia tộc. Sau, đến đời vua Hoàng Đế (Hiên Viên Huỳnh Đế),  mới chế ra áo mão, và sai Ông Thương Hiệt chế ra chữ viết.

Đó là khởi thủy của Nho giáo, thành hình do thực tế kết hợp với huyền lý của Trời Đất. Nho giáo lấy đạo Trời làm khuôn mẫu, dạy người thuận theo lẽ Trời, còn nghịch với Trời thì phải chết. Nho giáo đã giúp nước Tàu thời Thượng cổ được hòa bình, dân chúng trên thuận dưới hòa, tạo ra một nền luân lý có căn bản vững chắc. Tiếp theo đến đời nhà Châu, vua Văn Vương và con của Ngài là Châu Công Đán, tiếp tục khuếch trương Nho giáo, diễn giải Kinh Dịch do Phục Hy truyền lại, hệ thống hóa lễ nghi và sự tế tự.

Vào cuối thời nhà Châu, đời vua Linh Vương, năm 551 trước Tây lịch, có Đức Khổng Tử  ra đời. Đức Khổng Tử chỉnh đốn và san định  kinh sách, phục hưng Nho giáo, tạo thành một giáo thuyết có hệ thống chặt chẽ, xứng đáng đứng ngang hàng với Lão giáo và Phật giáo. Đức Khổng Tử được xem là Giáo Chủ Nho giáo.

Đạo Nho, kể từ khi Đức Khổng Tử phục hưng, nối tiếp về sau được các vị Thánh nhân như Tử Tư, Mạnh Tử, phát huy đến độ rực rỡ, rồi sau đó dần dần suy tàn theo thời gian, vì không có bậc tài giỏi nối tiếp xiển dương, cuối cùng trở thành một môn học từ chương dành cho sĩ tử leo lên đường hoạn lộ. Cái tinh túy của Nho giáo đã bị vùi lấp và Nho giáo được sử dụng một cách lệch lạc theo ý riêng của kẻ phàm trần.

Thứ Ba, 23 tháng 2, 2021

2 vĩ nhân.......

 Một câu chuyện có thật, đáng để đọc và suy ngẫm...

Câu chuyện bắt đầu từ một người nông dân nghèo tên Fleming ở Scotland.
Một ngày nọ ông đang làm việc để nuôi gia đình thì bỗng nghe tiếng kêu cứu từ cái đầm lầy gần đó. Ông vội chạy đến nơi thì nhìn thấy một cậu bé bị sa lầy trong ao, sình ngập đến đầu. Cậu đang giãy giụa gào khóc.
Người nông dân liền lập tức cứu cậu bé lên bờ.
Hôm sau, một cỗ xe sang trọng đi tới căn lều của Fleming. Một quý ông ăn mặc sang trọng bước ra, tự giới thiệu mình là Randolph Henry Spencer Churchill, cha của cậu bé mà được ông cứu sống ngày hôm qua. Ông ta nói:
– Tôi đến để cảm ơn và hậu tạ anh đã cứu mạng con trai tôi!
Ông Fleming đáp:
– Không có chi. Đây là chuyện nên làm và ông không cần phải hậu tạ, thưởng công. Tôi quyết không nhận đâu.
Ngay lúc đó, cậu con trai khoảng 10 tuổi của Fleming bước vào lều. Ông nhà giàu hỏi:
– Đây là con trai anh phải không?
– Vâng – Ông Fleming trả lời đầy vẻ tự hào.
Nhà quý tộc ân cần hỏi cậu bé:
– Khi lớn lên, cháu muốn làm gì?
Cậu bé nhỏ nhẹ thưa:
– Thưa ông, chắc cháu sẽ tiếp tục nghề làm ruộng của cha cháu.
Nhà quý tộc lại gặng hỏi:
– Thế cháu không còn ước mơ nào lớn hơn nữa sao?
Cậu bé im lặng cúi đầu một lúc rồi mới trả lời:
– Dạ thưa bác, nhà cháu nghèo thế này thì cháu còn biết ước mơ điều gì nữa đây?
Lại tiếp tục một câu hỏi chân tình:
– Nhưng bác muốn biết, nếu cháu được phép mơ ước thì cháu sẽ ước mơ điều gì?
Và lần này cũng lại là một câu trả lời thật thà:
– Thưa bác, cháu muốn được đi học, cháu muốn trở thành một bác sĩ!
– Vậy thì cho phép tôi đề nghị như thế này anh Fleming, hãy để tôi chu cấp việc học cho con trai anh hệt như tôi đã lo cho con trai mình. Nếu con trai anh mà giống tính cha nó thì tôi tin rằng ngày sau này cậu ấy sẽ trở thành một người mà cả hai chúng ta đều hãnh diện.
Ông Fleming nhà nghèo nghe vậy thì đồng ý. Thế là từ đó cậu con trai của Fleming được theo học tại những trường danh tiếng và tốt nghiệp đại học Y khoa Stainte-Marie ở London.
Nhờ có hoài bão lớn lao, không ngừng phấn đấu, cuối cùng tài năng của cậu cũng được cả thế giới công nhận. Cậu chính là bác sĩ lừng danh Alexander Fleming.
Vào năm 1927, bác sĩ Alexander Fleming là người đã chế ra thuốc kháng sinh Pénicilline cứu mạng được không biết bao nhiêu người trên thế giới. Năm 1945 ông được trao giải Nobel về y học.
Vài năm sau, người con trai của quý ông được cứu sống khỏi đầm lầy ngày xưa bị bệnh viêm phổi. May nhờ chính thuốc Pénicilline này đã cứu cậu thoát chết. Tên cậu chính là Winston Churchill, sau này cậu trở thành một vĩ nhân, là người mà cả nước Anh đều tự hào và hãnh diện. Đó chính là Thủ tướng trứ danh của nước Anh – Winston Churchill.
Điều thú vị là Ngài Winston Churchill và bác sĩ tài danh Alexander Fleming là đôi bạn rất thân của nhau trong suốt cuộc đời.
Bác sĩ Alexander Fleming mất năm 1955 tại London ở tuổi 74 và Thủ tướng Winston Churchill mất năm 1965 ở tuổi 91 tại London.
Cả hai ông đều yên nghỉ trong cùng một nghĩa trang.
Điều này chứng minh rằng:
“Hành thiện nhất định sẽ gặp thiện báo. Tất cả những gì ta cho đi đều sẽ được nhận lại. Bạn đừng lo sẽ mất đi, những gì bạn đã cho, tặng cho người khác bằng cả trái tim thì nhất định sẽ không mất”.
Vì vậy đừng quá coi trọng đồng tiền, mà hãy tô bồi phẩm hạnh, đạo đức. Vì đức hạnh và lòng tốt của bạn sẽ tạo ra thiên đường cho chính bạn và những người xung quanh…

Phở !

 NGUỒN GỐC MÓN PHỞ

Trong Tự điển tiếng Việt – Bồ đào Nha – La tinh của Alexandre de Rhodes xuất bản năm 1651 không có từ “Phở”. Trong Tự điển Huỳnh Tịnh Của( biên soạn năm 1895) và Tự điển Genibrel (biên soạn 1898) cũng không có từ Phở. Danh từ Phở được chính thức ấn hành lần đầu trong cuốn Việt Nam tự điển (1930) do Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo và giảng nghĩa: “Món ăn nấu bằng bánh bột gạo thái nhỏ với nước dùng bằng thịt bò hầm”.
Nhà Văn Nguyễn Công Hoan từng viết : “ Năm 1913…tôi trọ số 8 Hàng Hài…thỉnh thoảng, được ăn phở (hàng Phở gánh rong). Mỗi bát 2 xu (có bát 3xu, 5 xu)”. Phở rong bắt đầu thịnh hành nên bị chính quyền đánh thuế: “… họ phải mua hai hào tem thuế mỗi ngày. Như vậy có thể xem Phở xuất hiện khoảng giữa những năm 1900 đến 1913
Người Việt ngày xưa 99% là nông dân , họ coi Bò là loài gia súc thân thương và hữu ích ( Sức Kéo ) nên không ăn thit Bò! Vì thế nói quê hương Phở bò ở Nam định miền Bắc là không hợp lý.
Chuyện là :
Năm 1910 , nhiều thanh niên Vietnam cả miền Bắc lẫn miền Nam đi lính cho Pháp. Họ phải sang mẫu quốc để phục vụ một thời gian, trong số đó có một người từng làm phụ bếp cho Toàn quyền Saigon tên Huỳnh. Đơn vị Ông Huỳnh đóng quân ở Marseille và Ông được giữ chức Bếp trưởng của binh đoàn toàn lính người An Nam. Sáng nào Ông Huỳnh cũng ra lệnh đốt bếp lò thật sớm bằng cách hô to: ” Feu ! Feu ! ” có nghĩa là nổi lửa lên! để nấu súp thịt bò cho binh sĩ ăn điểm tâm với bánh mì khô. Thấy binh sĩ người Việt bỏ ăn sáng hơi nhiều Ông Huỳnh bèn nghĩ ra một món mới, hy vọng anh em binh sĩ An Nam sẽ cảm thấy dễ nuốt hơn. Sau khi được các “Sếp Tây ” cho phép, ông bèn lấy nước Súp bò của Tây… cho hầm chung với quế, hồi, gừng. Riêng ” bánh tài phảnh ” mua của người Tàu bán ở Khu Chinois rồi Ông Huỳnh nêm thêm nước mắm vào Soupe cùng với hành… ngò rí…hành tây… cho hợp khẩu vị Việt Nam. Tuyệt vời thay, ở xứ lạ quê người, buổi sáng trời lạnh như cắt da, mà lại được ăn một bát súp “hù tíu bò” nóng hổi ngào ngạt đậm mùi quê hương thay vì ăn bánh mì Tây quá ư nhạt nhẽo ! binh sĩ An Nam ủng hộ Chef Huỳnh hết mình…Nấu bao nhiêu cũng hết! Các Sĩ quan Pháp thấy vậy đòi ăn thử, ai cũng tấm tắc khen ngon rồi thắc mắc : ” Tên món này là món gì mà sáng nào Monsieur Huỳnh cũng ra lệnh Feu Feu vậy ?” Không chần chừ Ông Huỳnh trả lời: Thưa Sếp tên nó là Phở (Feu) đấy !
PHỞ ra đời năm ấy – năm 1910 …được Tây lẫn Ta yêu thích và chết tên “Feu” từ đó…Khi muốn ăn , Sĩ quan Tây chỉ cần nói ” Feu Feu ” là có tô phở bò hầm kiểu An Nam nóng hổi khói bốc nghi ngút..theo gió thơm lừng cả doanh trại.
Nhiều binh lính An Nam nhà ở Hanoi sau khi giải ngũ về đã lấy Phở gánh với tiếng rao : Feu….ớ ..làm kế sinh nhai, thực khách là lính Tây và kiều dân Pháp. Dân Hanoi cũng ăn thử và “mê tít” món Feu từ đó !
– Ở Dalat năm 1930 có phở Gare xe lửa là tiêm Phở Bò đầu tiên của Dalat do con Ông Huỳnh ( Chef ) làm chủ . chữ Tô Xe lửa ( Tô lớn ) từ đây mà ra . Phở Gare Dalat sau 1960 dời vế Phú Nhuận Saigon lấy tên là Phở Bắc Huỳnh
– Ở Saigon trước năm 1940 có tiệm Phở Turc là tiêm Phở đầu tiên Chủ tiệm cũng là dân đi lính Tây giải ngũ về , Ông này nói tiếng Pháp giỏi nên có nhiều khách Tây đến ăn…
Viết theo lời kể của Ông Võ Văn Côn – Nguyên là Chef Bếp Việt của Vua Bảo Đại
Chú thích :
Kể từ đầu thế kỷ 20 đến nay đã có nhiều tranh cãi về nguồn gốc ra đời của Phở. Tuy vẫn còn bất đồng về nơi xuất xứ thực sự hay thời điểm ra đời nhưng hầu hết cùng chung quan điểm là Phở được khai sinh trong thời Pháp thuộc , ở giai đoạn người Pháp bắt đầu đẩy mạnh khai thác thuộc địa ở Việt Nam. Có thể xem Phở là một trong những ví dụ đặc trưng cho khái niệm Bricolage (lai ghép) mà các nhà nghiên cứu văn hóa ẩm thực dùng để chỉ món ăn thiên hướng lai ghép ( kết hợp, biến tấu từ nhiều nguồn thức ăn ngoại lai ) hơn là tự thân sáng tạo .
Hiện nay Phở đã theo chân cộng đồng người Việt có mặt ở nhiều nước trên thế giới.


Bình luận