Lá Số Tử Vi Và Bình Giải Chi Tiết Lá Số Tử Vi Và Bình Giải: Btchieu Sinh ngày Ất Sửu Tháng Nhâm Thìn Năm Bính Thân An sao Tử vi và Bình giải Quý vị hãy nhập đầy đủ họ tên và ngày tháng năm sinh để vào xem Tử Vi Họ Tên Ngày Sinh Giờ Sinh Giới Tính Bản In PDF File Hình Trình An Sao Mới Hỏa (-) PHU-THÊ / 104 Tị CỰ <-Thủy-hđ> Thiên-Quan Lộc-Tồn Bác-Sỉ Phúc-Đức Thiên-Đức Kiếp-Sát TRIỆT TUẦN Trường-Sinh Hỏa (+) HUYNH-ĐỆ / 114 Ngọ LIÊM <-Hỏa-vđ> TƯỚNG <+Thủy-vđ> Tả-Phù Hóa-Kỵ Lực-Sĩ Kình-Dương Ân-Quang Điếu-Khách Mộc-Dục Thổ(-) MỆNH / 4 Mùi LƯƠNG <-Mộc-đđ> Thanh-Long Hồng-Loan Trực-Phù Quả-Tú Lưu-Hà Quan-Đới Kim (+) PHỤ-MẪU / 14 Thân SÁT <+Kim-mđ> Hữu-Bật Tiểu-Hao Địa-Kiếp Thiên-Quí Thái-Tuế LN Van-Tinh: Lâm-Quan Thổ(+) TỬ-TỨC / 94 Thìn THAM <-Thủy-vđ> Quan-Phủ Đà-La Bạch-Hổ Hoa-Cái Thiên-La TRIỆT TUẦN Dưỡng Mão Thìn Tỵ Ngọ Dần Tên: Btchieu Năm Sinh: BÍNH THÂN Dương-Nam Tháng: 3 Ngày: 7 Giờ DẬU Bản-Mệnh Sơn-hạ-Hỏa Cục: Kim-tứ-cục THÂN cư THIEN-DI (Than) / 64: tại cung SỬU Sao Chủ Mệnh: Liêm Trinh Sao Chủ Thân: Thiên Lương Mệnh: Sơn Hạ Hỏa (lửa đom đóm) Cầm Tinh: Xương con khỉ, xuất tướng tinh con quạ. Cân lượng: 4 lượng 0 chỉ Trực Thu Con nhà XÍCH ĐẾ (cô quạnh) Phật Bà Quan Âm độ mạng Xem thêm Tử Bình 2018 XemTuong.net Mùi Sửu Thân Tí Hợi Tuất Dậu Kim (-) PHÚC-ĐỨC / 24 Dậu ĐỒNG <+Thủy-hđ> Thiên-Việt Hóa-Lộc Tướng-Quân Thiên-Không Thiếu-Dương Địa-Giải Thiên-Thọ Đào-Hoa Phá-Toái Đế-Vượng Mộc(-) TÀI-BẠCH / 84 Mão NGUYỆT <-Thủy-hđ> Phục-Binh Thai-Phụ Đẩu-Quân Long-Đức Thiên-Riêu Thiên-Y Thiên-Tài Thai Thổ(+) ĐIỀN-TRẠCH / 34 Tuất VŨ <-Kim-mđ> Đường-Phù Tấu-Thơ Thiên-Khốc Tang-Môn Thiên-Giải Địa-Võng Suy Mộc(+) TẬT-ÁCH / 74 Dần TỬ-VI <+Thổ-mđ> PHỦ <-Thổ-mđ> Đại-Hao Địa-Không Thiên-Hư Thiên-Sứ Bát-Tọa Phượng-Các Giải-Thần Tuế-Phá Thiên-Mã Tuyệt Thổ(-) THIÊN-DI (Thân) / 64 Sửu CƠ <-Thổ-đđ> Văn-Khúc Văn-Xương Hóa-Quyền Hóa-Khoa Quốc-Ấn Bệnh-Phù Linh-Tinh Thiên-Hỉ Tử-Phù Nguyệt-Đức Mộ Thủy(+) NÔ-BỘC / 54 Tý PHÁ <-Thủy-mđ> Thiên-Phúc Hỉ-Thần Thiên-Thương Tam-Thai Long-Trì Quan-Phù Thiên-Trù Tử Thủy(-) QUAN-LỘC / 44 Hợi NHẬT <+Hỏa-hđ> Thiên-Khôi Phi-Liêm Hỏa-Tinh Phong-Cáo Thiếu-Âm Thiên-Hình Cô-Thần Bệnh XemTuong THÔNG TIN CÁ NHÂN Họ Tên Btchieu Ngày Sinh Tây Thứ Tư Ngày 13 Tháng 4 Năm 2016 Ngày Sinh Âm 7/3/2016 - Ngày Ất Sửu Tháng Nhâm Thìn Năm Bính Thân Ngày Sinh Xấu Ngày 7 Tháng 3 Năm 2016 phạm ngày xấu Tam Nương. Giờ Sinh Ất Dậu (17:20) Giới Tính Dương Nam Tuổi 3 tuổi Bính Thân Tiết khí Sinh vào mùa Thanh minh (Trời trong sáng) - Kinh độ mặt trời 15° Trực Trực Thu Cân Lượng 4 lượng 0 chỉ Mệnh Sơn Hạ Hỏa (lửa đom đóm) Cầm Tinh Xương con khỉ, xuất tướng tinh con quạ. Sao Chủ Mệnh Liêm Trinh Sao Chủ Thân Thiên Lương Con Nhà Con nhà XÍCH ĐẾ (cô quạnh) Độ Mạng Phật Bà Quan Âm độ mạng Màu Sắc hạp màu: xanh, đỏ - kỵ: đen, vàng Thân chào Quý Cháu Trai Btchieu. Chúng tôi xin gởi đến Quý Cháu Btchieu lá số trọn đời này và luận giải cùng Quý Cháu những vấn đề mà Quý Cháu đang quan tâm trong lá số. Trong một số đoạn bình giải, có những đoạn được trích nguyên văn trong sách Tử Vi xưa nên văn phong có phần hơi thẳn thắn, nếu có phiền lòng thì xin Quý Cháu Btchieu thông cảm bỏ qua vì đó là những lời bình được lập trình để bình giải lá số. Tổng Quát Bình Giải Quý Cháu Trai tuồi Bính Thân là người số Cao, mạng lớn, danh chức, địa Vị thường hơn người, có khả năng lãnh đạo chỉ huy hơn làm người thừa hành. Được Thái Dương chiếu mạng, là người thông sáng, tài cao và nhiều năng lực, thích làm chuyện lớn, đạt thành công to. Nếu ăn ở phước đức, có thể trở thành người nổi tiếng nổi danh trong xã hội. Cuộc đời khó tránh khỏi thăn trầm, nhưng lúc nào cũng Sung sướng, Vật chất đầy đủ, đa phần phải chịu rối rắm đường tình. Ngoại trừ Quý Cháu Trai thuận sanh Xuân, Hè, được nhờ vào gia đinh Vợ, dễ dàng tạo lập công danh, sự nghiệp, cuộc sống có thể hưởng đủ phú quý, Vinh hoa. Khi đã vào hàng Lục Tuần, đa phần đều có sự nghiệp nhưng Vẫn thích hoạt động và Vẫn có Cơ hội để vươn lên cao hơn nữa. Cũng có Ông, đã chán mùi lợi danh, muốn quay về nương vào Tôn Giáo, tinh thần thanh thản, nhàn an. Bây giờ Quý Cháu Trai với tuổi còn quá nhỏ, được sự bảo dưỡng của gia đình, cần cố gắng chăm chỉ học hành, vân lời Bố Mẹ, trau dồi tánh đức, vì việc học chính là con đường tươi sáng đưa đến sự nghiệp rỡ ràng trong mai sau, là vốn liếng chắc thật, để có dịp báo hiếu Mẹ Cha, đền đáp công ơn sinh thành, dưỡng dục, là hành trang đầy đủ để tiến bước trong cuộc đời vốn nhiều sóng gió phía trước. Đoán xem số mạng tuổi này, Bính Thân mạng Hỏa cung Khôn rõ ràng. Tuổi sanh Xuân Hạ gặp thời, Giàu nghèo cũng đặng an nơi thanh nhàn. Thu Đông lỗi số chẳng an, Có của cũng cực lưng mang quần dài. Hạn xưa chưa được hanh thông, Như thuyền trôi dạt không phương bến bờ. Số Trời định những bao giờ, Tài ba vận mạng chờ ngày phát sanh. Một đời tài sắc phong danh, Đến khi vận giữa lần lần nối theo. Ra ngoài kẻ quý người yêu, Đắc tài đắc lộc còn nhiều hạn sau. Quỷ Cốc Toán Mệnh Để chắc chắn và đi sâu hơn trong phần bình giải lá số tử vi, chúng tôi kết hợp thêm phần phụ đoán theo Quỷ Cốc Toán Mệnh để Quý Cháu Trai có thể biết rõ hơn về số mệnh mình. Xem Tướng chấm net nhận thấy tứ trụ của Quý Cháu Trai có Lưỡng Đầu Kiềm là Bính Ất, ứng với quẻ HỎA PHONG ĐỈNH. Theo Quỷ Cốc tiên sinh, đây là cục ẨN TINH LẠC VÂN (Sao lặn mây sa), nghĩa là: Sự nghiệp thành đạt muộn trước mắt chưa gặp thời (Đại khí vãng thành mục tiền thượng phi kỳ thời ) Các câu thơ sau chứa đựng nhiều hàm ý tiên định của Quỷ Cốc Tiên Sinh và cùng lời bình giản lược: • Thử mệnh ngọc nhuận kim huy, Nhân giai 偕 ngưỡng mộ, Khả vị chung đỉnh chi khí, Lương đống 棟 梁 chi tài (Mệnh này là ngọc nhuận vàng sáng, người đều kính trọng hâm mộ, khá gọi là cái khí tượng chung đỉnh “quyền quý”, là người có cái tài năng gánh vác việc lớn quan trọng, ) • Chỉ hiềm thoái thần trọng, Cố hảo sự vu hồi, Phiêu phúc xứ lao nhi vô tâm, Tân khổ xứ tố sự bất thực, Vu ta hề! hảo sự tòng lai bất thập toàn, Thái vân dị tán, Lưu ly dị trái, Bản thị hiên ngang đầu giác, Nại hà vị thông, Hành đắc long ngâm (Chỉ hiềm vì thoái thần nặng, cho nên việc tốt bị quanh co, nơi phúc nổi nhọc mà không công, nơi khó nhọc việc làm lại không thực, Chao ơi kìa ! việc tốt theo từ đó tới chẳng vẹn mười, mây đẹp dễ tan, ngọc lưu ly dễ vỡ, vốn là người hiên ngang sừng sỏ, tại sao “vận hạn” chưa thông?, đi được rồng gầm “hốt nhiên biến dổi vượt trội”) xem chi tiết Lượng Số Bình Giải Số 4 lượng Cuộc đời đã trãi lắm phong sương Nay được giàu sang rạng tổ đường Mọi việc tính gì đều được nấy Tương lai lộc thọ ắt miên trường. Nói chung, Quý Cháu Trai có số lượng và số chỉ nầy lúc nhỏ có phần gian truân, nhưng thời gian ngắn thôi Cuộc sống từ 25 tuổi trở lên mới được phát đạtCông danh sự nghiệp được hanh thông Về sau dược hưởng của hoạch tài chẳng qua đó là chổ tích đức phùng đức. Mệnh bình giải CAN KHẮC CHI: Quý Cháu Trai đường đời gặp nhiều nghịch cảnh để sẳn sàng làm đổ vở sự nghiệp. Ở Quý Cháu Trai cần đòi hỏi Quý Cháu Trai phải có một là số với các sao đi đúng bộ thật tốt mới mong nên danh phận nhưng cũng vẩn phải trải qua nhiều cuộc thăng trầm. Đời gặp nhiều trở lực. Ngoài ra Quý Cháu Trai có cung mệnh ở thế sinh xuất (cung mệnh ở cung âm) tức là người hào sảng phóng khoáng, dễ tha thứ. MỆNH KHẮC CỤC: Quý Cháu Trai nếu muốn thành công thì phải có nhiều nghị lực vì cuộc đời Quý Cháu Trai sẻ gặp nhiều trở ngại để làm hỏng đại sự. Tuổi Thân: Sao chủ Mệnh: LIÊM-TRINH. Sao chủ Thân: THIÊN-LƯƠNG. Thông minh, sắc são, tinh tế trong trực giác và suy luận. Có nhiều mưu cơ. Được hưởng phú quí lâu dài, có văn tài lỗi lạc, giỏi về khoa sư phạm, có uy danh lớn. Đàn bà thì vượng phu ích tử (LƯƠNG miếu, vượng, đắc địa). Phú quí tột bực, phúc thọ song toàn, phò tá nguyên thủ (Mệnh ở Sửu được NHẬT ở Tỵ, NGUYỆT ở Dậu chiếu). Không thích giao thiệp, ít giao thiệp, ít bạn bè có gì thì hay giữ trong lòng ít khi thổ lộ ra ngoài (Quả-Tú (Thổ)). Có sức thủ hút, quyền rũ, vui vẻ, mau mắn, đa tình, có duyên. Có khiếu về mỹ thuật, âm nhạc nhưng thường thiếu kiên nhẩn và hay bỏ dở công việc. Về hôn nhân, đàn ông có thể có hai đời vợ hoặc có vợ lẻ, nhân tình (Hồng-Loan (Mộc)). Ăn nói lưu loát, có tài hùng biện, diễn giãng hay và phong phú, hay tranh cãi, biện bác, đàm luận về chính trị, xách động, cổ võ bằng lời nói, thuyết phục bằng ngôn ngữ (Lưu-Hà (Thủy)). Đàn ông có thể chết ở nơi đường xá. Vui vẻ, hòa nhã, may mắn cho việc thi cử, công danh, hôn nhân, sanh nở (Thanh-Long (Thủy)). Cuộc đời trôi nổi, bềnh bồng có khi vô định muốn tiến thẳng tới, đôi lúc bi quan. Trực tính, ăn ngay nói thẳng, không sợ mích lòng hay động chạm (Trực-Phù (Kim)). Biểu tượng cho chức vị, quyền hành. Có đầu óc đua chen, tranh đấụ Ngoài ra Quan-Đới tượng trưng cho cái đai ngọc hay là sợi dây thừng. "Quan Đới là giai đoạn biết đội nón chít khăn để hưng gia lập nghiệp. Ban đầu bần hàn càng về sau càng quí hiển, nếu lại ở ngôi bản vị quí nhân thì tuổi trẻ đã đắc lộ thanh vân." (Trích sách Tử Vi đẩu số toàn thư của Vũ Tài Lục trang 266) Nếu bạn tin vào thuyết "Nhân Qủa" thì người tuổi Thân có sao Thiên-Tài ở TÀI-BẠCH: Nên chi tiêu rộng rãi nhưng cũng nên lo đến tương lai (trích TỬ VI CHỈ NAM của Song-An Đỗ-văn-Lưu, Cam-Vũ trang 286). Thân bình giải Thân cư Thiên Di: Thường hay phải xa nhà hoặc làm công việc có tính cách di chuyễn thường xuyên. Thân có Thiên-Đức, Nguyệt-Đức và Đào-Hoa vợ chồng xứng đôi . Phụ Mẫu bình giải Cha mẹ quí hiễn, sống lâu nhưng hay bất hòạ Nếu không cha mẹ và con cũng không hợp tính nhau (THẤT-SÁT đơn thủ tại Thân). Trong nhà thiếu hòa khí, hay có sự tranh chấp. Cha mẹ và con không hợp tính nhaụ Nếu Thái-Tuế lại gặp thêm nhiều sát-tinh (Không, Kiếp, Hỏa-Tinh, Linh-Tinh, Kỵ, Đà) nhất là Hóa-Kỵ, Đà-La xâm phạm, tất cha mẹ phải xa cách nhaụ Gia đình ly tán. Ngoài ra cha hay mẹ thường hay mắc tai họa, đáng lo ngại nhất là kiện cáo (Thái-Tuế). Cha mẹ vất vả nếu không cũng bất hòa hay cha mẹ và con không hợp tính nhaụ Có thể cha mẹ bị mất sớm hay bị ngục tù, chia cách. Có thể không nhờ vả được cha mẹ mà còn phải gánh nợ của cha mẹ để lại (Địa-Kiếp (Hỏa)). Được cha mẹ thương yêu đặc biệt hay có thể có cha mẹ nuôi hay đở đầu (Thiên-Quí (Thổ)). Cha mẹ thông minh, hiếu học, có khả năng học vấn, khả năng thành danh sĩ (LN Văn-Tinh (Hỏa)). Cha mẹ khó tính với mình, với người, ưa cô đơn, suy tư, ghét tiếng động, ít bạn thân. Biết xét đoán, lý luận, giỏi về pháp lý, hùng biện (tranh chấp, đấu lý), ít giao thiệp, không thích chổ ồn ào đông ngườị Nói chung đây là loại người ít giao du hoặc ít bạn bè (Thái-Tuế (Hỏa)). Phúc đức bình giải Nhiều bất hạnh cho dòng họ. Lao tâm khổ tứ bất đắc an thân. Dù có là người cương cường trì chí cũng không thể nhất tâm chuyên chú vào một công việc nào được. Tất phải thay đổi công việc, ý chí mà vẫn chẳng được xứng ý toại lòng. Muốn được túc đụng độ nhật thì phải ly hương và phân tán. Toàn tộc không có bậc đại thọ, bất thần di thương (ĐỒNG đơn thủ tại Dậu). Giàu sang vinh hiễn hành sự mọi việc khôn khéo; suốt đời khá giả, phong lưu (Quyền, Lộc hội hợp). Có tổ nghiệp lưu truyền (song Lộc). Tổ phụ có quyền chức (Khoa, Quyền, Lộc). Ông bà có quan chức (Tướng, Ấn). Gia tăng phúc thọ. Nhiều con cháu (Đế-Vượng (Kim)). Giải trừ bệnh tật, tai họa, gặp nhiều may mắn một cách đặc biệt (Địa-Giãi (Thổ)). Được thần linh che chở (Thiên Việt (Hỏa)). Được hưỡng phúc khỏi phải lo lắng những lúc túng thiếụ Tránh được nhiều tai họa, họ hàng giàu có (Hóa-Lộc (Mộc)). Điền trạch bình giải Chú ý: cung Điền xấu thì con người nghèo về nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ, hoa màu, cơ xưởng làm ăn, vật phẩm sản xuất. Cung Điền xấu không có nghĩa là nghèo tiền bạc (trích Tử-Vi Tổng Hợp của cụ Nguyễn Phát Lộc, trang 398). Cơ nghiệp của tiền nhân để lại rất lớn laọ Càng về sau càng thịnh vượng (VŨ-KHÚC đơn thủ tại Tuất). Làm hao hụt của cải (Thiên-Giải (Hỏa)). Quan lộc bình giải Gặp nhiều trở ngại trên đường công danh. Lúc thiếu thời lật đật vất vả. Đến khi nhiều tuổi mới được xứng ý toại lòng. Có tài nhưng không gặp cơ hội để thi thố, nên suốt đời hậm hực. Tuy vậy, cũng được nhiều người kính trọng vì có đức độ và có tài văn chương (NHẬT đơn thủ tại Tuất). Rất quí hiển, được trọng dụng, được ban khen (Phong-Cáo và Thai-Phù gặp NHẬT, NGUYỆT sáng sủa). Gặp thời, gặp nhiều may mắn (Thanh-Long, Lưu-Hà). Người gặp thờị Quan lộc gặp nhiều may mắn (Thanh-Long, Quan-Đới). Có triển vọng về cơ khí hay quân sự. Sáng sủa tốt đẹp: Hoạnh đạt về võ nghiệp. Mờ ám xấu xa: Tai ương đi liền với lợi danh. Nên chuyên về cơ khí. Trường hợp này rất cần nhiều sát-tinh sáng sủa hội hợp mới hiễn đạt (Thiên-Hình (Hỏa)). Nô bộc bình giải Giúp việc đắc lực (PHÁ-QUÂN nhập miếu). Thường gặp tôi tớ phản chủ hoặc gặp bạn xấu (Quan-Phù (Hỏa)). Thiên di bình giải Xa nhà không được yên thân, không được xứng ý (CƠ tại Sửu). Hay được lui tới chổ quyền quí. Ra ngoài có danh giá, được nhiều người kính trọng (Hóa-Quyền, Hóa-Khoa). Nhiều bạn giàu sang giúp đở (Khoa, Quyền, Lộc). Nhiều bạn văn chương (Xương, Khúc). Có bằng sắc phẩm hàm (Tướng Quân ngộ Quốc Ấn). Thường lui tới chổ quyền quí hoặc có thế lực lớn trong xã hội hoặc được trọng đãi, tín dụng (Hóa-Quyền (Thủy)). Tật ách bình giải Cứu giải khá nhiều bệnh tật tại ương (TỬ, PHỦ đồng cung). Bộ máy tiêu hóa không được lành mạnh tuy nhiên có bệnh thì mau khỏi (Hao). Phú: "Ba phương chiếu lại một phường, Thấy sao Tử Phủ, Thiên Lương cùng là, Thiên Quan, Thiên Phúc hợp hòa, Giải Thần, Nguyệt Đức một tòa trừ hung." Bệnh ở tai như lãng tai (Phượng Các, Kình). Giải trừ bệnh tật tại ương (Giải-Thần (Mộc)). Thận suỵ Răng xấu, hay bị sau răng (Thiên-Hư (Thủy)). Tài bạch bình giải "Đại Phú do Thiên, Tiểu Phú do cần cù". Chú ý: Cung Tài chỉ diễn tả tình trạng sinh kế tổng quát của cuộc đời, chớ không mô tả hết sự thăng trầm của từng giai đoạn. Thành thử, muốn biết cái nghèo trong từng chi tiết, trong từng thời kỳ, người xem số phải đoán các cung Hạn (trích Tử-Vi Tổng Hợp của cụ Nguyễn Phát Lộc, trang 398). Vất vả mới kiếm được tiền. Phải gặp thời loạn hay phải đi ngang về tắt mới kiếm được đủ dùng. Về già mới sung túc (NGUYỆT đơn thủ tại Mão). Tuy không giàu có nhưng cũng được phong lưu (NGUYỆT hãm-địa). Hà tiện. Khéo giữ của (Cô-Thần, Quả-Tú). Tiêu xài kỷ lưởng (Đẩu-Quân (Hỏa)). Bị trộm cắp, bị ghen ghét, đố kỵ vì tiền. Cũng có thể bị người sang đoạt, ăn chận. Kiếm tiền bằng thủ đoạn (Phục-Binh (Hỏa)). Ham mê tửu sắc, cờ bạc (Thiên-Riêu (Thủy)). Tử tức bình giải Sinh nhiều nuôi ít. May mắn lắm mới có ba con. Con bất hiếu, xung khắc với cha mẹ (THAM-LANG tại Thìn). Khó sanh con hoặc sanh con thiếu tháng hoặc sanh con khó nuôi (Bạch-Hổ (Kim)). Có thể có con nuôi, con đở đầu hoặc nhờ người khác nuôi con mình. Ngoài ra còn có nghĩa là nuôi con riêng của vợ hay của chồng (Dưỡng (Mộc)). Con đầu bất lợi (Đà) Rất khó nuôi con đầu lòng. Sau này con cái hay xung khắc với cha mẹ và không thể chung sống một nhà được (TUẦN, TRIỆT án ngử). Phu / Thê bình giải Phú: "Cự Môn bất mãn trong lòng, Ba lần kết tóc chưa xong mối sầu". Vợ chồng bỏ nhaụ Trai hay gái đều phải hai ba lần lập gia đình (CỰ đơn thủ tại Tỵ). Vợ chồng xứng đôi (Thiên-Đức, Nguyệt-Đức, Đào-Hoa). Nên muộn lập gia đình hay đi xa mà thành hôn phối mới tránh được hình khắc. Thường ít nhất cũng phải hai ba độ buồn thương chia cách (TUẦN, TRIỆT án ngử). Phú: "Song Lộc hội Phu Thê cung, Vợ chồng phối hợp vốn dòng giàu sang." Người phối ngẩu làm giàu (Song Lộc). Người phối ngẩu đảm đang (Trường Sinh, Đế Vượng). Nên chậm cưới hỏi để tránh bất hòa, chia ly sau này, người phối ngẫu có của (Lộc-Tồn (Thổ)). Nên muộn lập gia đình hay đi xa mà thành hôn phối mới tránh được hình khắc. Hoặc ít nhất cũng phải hai ba độ buồn thương chia cách. "Nếu Tuần Triệt đồng cung thì cái họa chia ly, sát phu, chấp nối hầu như khó tránh và có thể xảy ra ít nhất 2 lần trong gia đạọ Nếu các cung Phúc, Mệnh, Thân mà xấu nữa thì nữ số, ngoài việc chết chồng, mất chồng, có thể lâm vào cảnh lẽ mọn, thứ thiếp, chưa kể đây có thể là trường hợp gái giang hồ hoặc là gái già không chồng, lỡ thời hoặc phải ở vậy nuôi con, dù có "lắm mối tối nằm không". Trường hợp chồng bỏ cũng là một hình thái khả dĩ có (Trích Tử Vi Tổng Hợp của Nguyễn Phát Lộc trang 581) (TUẦN, TRIỆT án ngử). Huynh đệ bình giải Hai người, tất cả đều quí hiển (LIÊM, TƯỚNG đồng cung). Anh chị em xung khắc (Kình). Anh chị em hòa thuận và thường giúp đở lẩn nhaụ Có thể có anh chị em nuôi hay có anh chị em kết nghĩa (Ân-Quang (Mộc)). Anh chị em khiếm hoà, anh chị em Ít khi hòa thuận hay không sống gần nhau đổi lại còn tranh giành nhau về tài sản (Hóa-Kỵ (Thủy)). Hôn nhân / Hỉ tín Hạn tuổi năm24: Hạn tuổi năm25: Có hỉ tín (Thiên-Đức, Nguyệt-Đức, Đào, Thiên-Hỉ). Nhanh chóng, bất ngờ, bất thần, đột ngột (Thiên-Không (Hỏa)). Chỉ sự vừa ý (Thiên-Việt (Hỏa)). Hạn tuổi năm26: Có hỉ tín (Thiên-Đức, Nguyệt-Đức, Đào, Thiên-Hỉ). Nhanh chóng, bất ngờ, bất thần, đột ngột (Thiên-Không (Hỏa)). Chỉ sự vừa ý (Thiên-Việt (Hỏa)). Hạn tuổi năm27: Có hỉ tín (Thiên-Đức, Nguyệt-Đức, Đào, Thiên-Hỉ). Nhanh chóng, bất ngờ, bất thần, đột ngột (Thiên-Không (Hỏa)). Chỉ sự vừa ý (Thiên-Việt (Hỏa)). Hạn tuổi năm28: Hạn tuổi năm29: Hạn tuổi năm30: Có hỉ tín (Thiên-Đức, Nguyệt-Đức, Đào, Thiên-Hỉ). Nhanh chóng, bất ngờ, bất thần, đột ngột (Thiên-Không (Hỏa)). Chỉ sự vừa ý (Thiên-Việt (Hỏa)). Hạn tuổi năm31: Có hỉ tín (Thiên-Đức, Nguyệt-Đức, Đào, Thiên-Hỉ). Có hỉ tín (Thiên-Đức, Nguyệt-Đức, Hồng, Thiên-Hỉ). Nhanh chóng, bất ngờ, bất thần, đột ngột (Thiên-Không (Hỏa)). Chỉ sự vừa ý (Thiên-Việt (Hỏa)). Có bà mai giúp nên duyên vợ chồng (Nguyệt-Đức, Đào, Hồng). Có tình duyên, bồ bịch (Thiên-Hỉ, Hồng, Đào). Nhanh chóng, bất ngờ, bất thần, đột ngột (Thiên-Không (Hỏa)). Chỉ sự vừa ý (Thiên-Việt (Hỏa)). Hạn tuổi năm32: Có hỉ tín (Thiên-Đức, Nguyệt-Đức, Đào, Thiên-Hỉ). Nhanh chóng, bất ngờ, bất thần, đột ngột (Thiên-Không (Hỏa)). Chỉ sự vừa ý (Thiên-Việt (Hỏa)).
Mobile house hay còn gọi là mobile home là 1 kiểu nhà khá thông dụng ở Mỹ và phù hợp với phong tục làm việc ở nhiều nơi và dọn nhà nhiều lần của người Mỹ. Mobile house là kiểu nhà gần giống townhouse và trailer house, được xây dựng hoàn chỉnh thành 1 ngôi nhà như townhouse nhưng nền móng vững chắc và có thể di chuyển được trong điều kiện hạn chế, nhà mobile house dành cho những gia đình có điều kiện làm việc ở nhiều nơi , có thể dọn cả ngôi nhà theo nơi cần tới.
Chủ nhà của mobile house thường phải mướn đất để đặt nhà của mình lên đó ;Mỗi thành phố thường có quy hoạch cho những cụm đất dành cho nhà mobile house chứ không phải đặt nhà ở đâu cũng được. Mobile house thường có thiết kế khá đơn giản và thường chỉ có 1 tầng , do điều kiện phải di chuyển. Mobile house có hệ thống điện nước riêng đi theo nhà, khi đặt lên khu đất mướn chỉ cần kết nối với hệ thống điện gas, điện , và nước của khu đất đó.
*** Con cháu họ Trần Lý nên biết : Vài năm Tuất đáng nhớ ! * Năm Giáp Tuất (974) là năm sinh của Lý Công Uẩn vị vua đầu nhà Lý, hiệu Thái Tổ. Thuở nhỏ làm con nuôi đại sư Lý Khánh Văn, dày công tu học và luyện tập. Nghị lực, thông minh, văn võ song toàn, khi trưởng thành, ngài được tiến cử vào quan trường, thăng đến chức Điện tiền chỉ huy sứ, phụ trách quân cấm vệ. * Nhà Tiền Lê suy yếu, năm 1009 Lê Ngoa Triều mất. Được suy tôn lên ngôi, năm 1010 ngài chính thức đăng quang, khai sinh vương triều Lý và cho dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Đại La (Hà Nội), đổi tên là Thăng Long, ngài còn thực thi cải cách mạnh mẽ công quyền, kinh tế, văn hóa, lễ nghi và chấn hưng Phật giáo.
* Năm Canh Tuất (1070), nhà Lý dựng Văn miếu và mở Quốc tử giám ở kinh thành làm nơi học tập cho con em tầng lớp quí tộc, quan lại. Nền đại học Việt Nam bắt đầu hình thành từ đó........
*** Có 1 câu chuyện về lòng tham rất hay : Một vị thiền sư đi ngao du thiên hạ, khi đến một vùng núi nọ thì bị ốm nặng, ông được một bà goá là chủ quán trà cứu và đưa về nhà chăm sóc. Mặc dù không biết tung tích vị thiền sư, quán nghèo thưa thớt khách, không có tiền nhưng người phụ nữ vẫn tận tình chăm sóc và cứu chữa cho ông. Hơn 3 tháng ròng, vị thiền sư mới bình phục, cảm động ân tình của bà chủ quán, vị thiền sư trước khi rời đi dành một tuần liền để đào một cái giếng cạnh quán cho bà goá tiện dùng nước, không phải ra tận suối gánh nữa.Không ngờ, từ khi dùng nước giếng mà vị thiền sư đã đào để pha trà bán, trà của bà goá có mùi thơm thật đặc biệt và vị của trà cũng rất ngon, ai uống một lần cũng phải quay lại. Tiếng lành đồn xa, quán trà của bà goá khách đến đông nườm nượp, người đàn bà goá trở nên giàu có từ đó. Ít lâu sau, vị thiền sư có dịp ghé qua quán để thăm lại ân nhân của mình, thấy cơ ngơi khang trang, vị thiền sư rất mừng cho bà goá. Khi hỏi về giếng nước, bà goá than phiền với thiền sư: “Giếng nước này tốt lắm, có điều nước cạn liên tục, vài ngày mới lại đầy nên tôi chẳng bao giờ đủ để bán cho khách”. Vị thiền sư nghe xong lắc đầu, nói: “Không tốn kém gì cả, từ nguồn nước trời cho rồi kiếm ra nhiều tiền mà bà vẫn không thấy hài lòng ư?” .Ông viết lên tường một câu: “Trời đất bao la nhưnglòng tham của con ngườicòn mênh mông hơn thế!” rồi lẳng lặng quay đi, không bao giờ quay trở lại quán nữa. Giếng nước từ ấy cũng cạn dần......Chúng ta, phần lớn giống như bà goá kia, không bao giờ hài lòng với cái mình có mà thường đứng núi này trông núi nọ. Chúng ta thường hay so sánh, hay mong ước viển vông mà quên vui hưởng hiện tại của mình.
Trong kinh Pháp cú có chỉ rõ: Tham Sân Si là tam độc, là sự ham muốn thái quá, là một cơn giận, nóng nảy, thù hận, không vừa lòng, không như ý muốn, là sự u tối không suy xét theo lẽ phải, hay dở tốt xấu.
Tham sân si là ba thứ kịch độc luôn tìm ẩn trong tâm ta. Nếu không nhận diện được bản chất của nó và cách kiểm soát thì ta sẽ rất dễ trở thành nạn nhân của nó, vì sao? Vì một khi 3 thứ này nó khởi lên thì nó sẽ thiêu cháy tất cả nào là nhân cách đạo đức, sự sáng suốt, mạng sống của chính chúng ta và những người khác.
Gần đây chúng ta được nghe nói khá nhiều về cụm từ "drone" hay "UAV". Đây là một loại máy bay không người lái được sử dụng cho nhiều mục đích, từ bay giám sát và tiêu diệt mục tiêu quân sự cho đến chụp ảnh, quay phim hay thậm chí là giao... bánh pizza. Và tất nhiên, UAV không phải là đồ chơi, thế nên để nó bay lên trời thì cũng có nhiều quy định phải tuân theo. Theo Cục quản lý hàng không liên bang Mỹ (FAA), drone hay còn gọi là unmanned aerial vehicle (UAV) là máy bay không người lái. "Nó có thể có nhiều hình dạng, kích thước và phục vụ nhiều mục đích khác nhau. Chúng có thể có sải cánh rộng như một máy bay phản lực hay chỉ nhỏ như một chiếc máy bay mô hình điều khiển bằng sóng radio"......... Nó cũng có thể chở theo.......bomb đấy !
Sau nhiều ngày chuẩn bị, thủy đài trên đường Nguyễn Văn Đậu (quận Bình Thạnh) đang được đơn vị thi công tháo dỡ vào tháng 12/2017 Bên trong công trình này có nhiều kết cấu khá đặc biệt, lớp bê tông thủy đài này dày trung bình khoảng 30 cm, phần đế dày 40 cm, lớp thép bên ngoài bọc hàng chục dây thép, bên trong lò xo có vữa xi măng và đá nhỏ. "Đây là kết cấu để co giãn như cáp dự ứng lực của dầm cầu trong quá trình tác động của nước", trông giống như 1 thùng làm nước mắm của ta !
Hiện nay người Nhật tổ chức đón năm mới vào ngày 01/01 theo dương lịch hàng năm, trước đây người dân xứ sở hoa anh đào cũng đón năm mới theo âm lich, như Việt Nam và một số nước Châu Á, tuy nhiên kể từ năm 1873 đến nay, Nhật Bản đã tổ chức Tết theo dương lịch nhằm tiết kiệm thời gian cũng như mang lại nhiều lợi ích kinh tế.
Nhờ việc thay đổi này mà chính phủ Nhật Bản đã tiết kiệm được rất nhiều chi phí cho việc trả lương tháng 13 cho công chức đồng thời giảm bới số ngày nghỉ góp phần tăng sản lượng quốc gia
Đêm 30 Tết, cả gia đình người Nhật sẽ ăn bữa tất niên. Đến thời khắc giao thừa, các ngôi chùa thiêng sẽ điểm 108 hồi chuông. Người Nhật tin rằng những tiếng chuông này sẽ giúp họ xua đuổi 108 con quỷ sứ. Chủ gia đình sẽ đọc lời chúc mừng năm mới và sau đó cả gia đình sẽ cùng nhau ăn bánh Tết, uống rượu. Người Nhật tin rằng thần Toshigami-sama sẽ truyền sinh lực vào bánh Tết, nên sau khi cúng thần chiếc bánh này sẽ được chia ra cho mọi thành viên trong gia đình thưởng thức.
Đối với người Nhật, xuất hành đầu năm là một việc trong đại. Họ thường ưu tiên đi lễ chùa cầu may. Mỗi năm có một hướng tốt nên người Nhật sẽ đi lễ chùa theo hướng của năm đó. Khi vào chùa mọi người phải rửa tay và súc miệng trước, sau. Từ mùng 1 Tết, người Nhật sẽ đi chúc Tết cấp trên, bạn bè, họ hàng thân thích. Người Nhật gọi ba ngày đầu năm mới là "ba ngày chúc tụng". Theo truyền thống, các gia đình đều để cuốn sổ và bút chì trước cổng. Người đi chúc Tết sẽ ghi địa chỉ vào cuốn sổ, mang ý nghĩa là đã đến thăm nhà. Người Nhật cũng có phong tục lì xì cho trẻ con như các nước châu Á khác.........
Bát trân ý nói là những món ăn ngon. Ngày xưa, có 8 món ăn được liệt vào hạng ngon nhất, nấu công phu và rất bổ dưỡng, chỉ có vua chúa mới có dịp ăn, ấy là:
1. Nem công: Thịt công ăn bổ, giải trừ thứ độc trong người. Khi làm, người ta phải cẩn thận cắt mật vất đi, vì mật công rất độc.
2. Chả phượng: Giống chim này sống ở núi cao, rất khó bắt. Con trống gọi là Phụng, con mái là Hoàng. Người xưa tin rằng khi nào chim phụng xuất hiện là điềm thánh nhân ra đời.
3. Da tây ngu: Tây ngu còn gọi là tê ngưu (tê giác), một giống heo rừng lớn, chân có ba móng, đầu có ba sừng. Nó có hình dạng xấu xí, chỉ ăn cây rừng. Da tây ngu dày dao đâm không thủng, chỉ trừ da ở nách là mỏng, người ta lấy da này ngâm vào nước rồi nấu ăn.
4. Tay gấu: Gấu có sức mạnh tập trung vào hai chân trước (tay).
6. Môi đười ươi: Đười ươi là giống khỉ lớn thích đùa giỡn, khi vui phát ra tiếng như cười nức nẻ.
7. Thịt chân voi: Voi tuy lớn, nhưng chính giữa bàn chân voi lại có một lớp thịt gân rất mềm.
8. Yến sào: Yến ăn rau câu bọt bẻ, pha trộn với nước miếng, chế thành một chất nhựa trong, nhiễu ra thành sợi để dệt tổ áp dính vào tường. Tổ yến làm rất công phu, ngon và bổ.
Ngày xưa có một người nhà quê lấy phải vợ độc ác. Người vợ này đối xử với mẹ chồng rất là hỗn láo vô lễ. Người chồng khuyên hoài không được, bèn nghĩ ra một kế.
Anh ta sắm một con dao bầu thật sắt. Mỗi ngày lấy ra mài. Người vợ lấy làm lạ hỏi, nhưng anh ta không đáp. Người vợ tò mò hỏi hoài, cuối cùng anh ta trả lời: "Tôi mài dao để có dịp giết mẹ đi thôi. Mẹ đã già, sống mà ngày nào cũng cãi cọ với mình vậy thì thà chết đi cho rồi".
Người vợ thấy thế hoảng hốt, rồi ăn năn: "Xin mình đừng giết mẹ, từ nay tôi hứa sẽ không có điều chi to tiếng trong nhà nữa".
Từ đó trong nhà thuận hòa vui vẻ.
"Mài dao dạy vợ" ý nói sự khôn ngoan của người chồng để khuyên bảo vợ mình làm điều phải.
Thời Ngũ Đại, có một người tên là Mã Ân, tiến ngôi vua Mã Ân nguyên trước chỉ là một vị quan võ nhỏ, bộ hạ của quan Vũ An Tiết Độ Sứ đời Đường là Lưu Kiến Phong. Rồi sau, Lưu Kiến Phong bị bộ hạ giết, Mã Ân được tôn lên làm Thống soái.
Rồi đến khi Chu Ôn soái được thiên hạ của nhà Đường, đổi quốc hiệu là Lương (sử gọi là nhà Hậu Lương), thì Mã Ân được phong làm Sở Vương, làm chủ cả một giải đất Đông Bắc tỉnh Hồ Nam và Quảng Tây, quyền uy lừng lẫy một thời.
Nhưng Mã Ân thật sự lại chỉ là một kẻ tầm thường, bất tài, chuyên lo hưởng thụ, người đương thời rất khinh thường Mã Ân, và gọi Mã Ân là "Tửu nang phạn đại", ý nói rằng Mã Ân chỉ là cái túi để chứa rượu, đựng cơm mà thôi.
Về sau, người đời biến "Tửu nang phạn đại" thành thành ngữ để chỉ hạng người bất tài vô đức, không giúp gì được cho quốc gia xã hội, trái lại chỉ chạy theo lợi danh, mưu cầu cơm áo cho mình mà thôi.
Thuần Vu Phần ngày xưa rất nghèo, nằm ngủ bên gốc cây hòe, chiêm bao thấy hai sứ giả mời ông làm phò mã, rồi được vua phong làm Thái thú ở đất Nam Kha rất vinh hiển. Khi tỉnh giấc chỉ thấy một đàn kiến bên mình.
"Giấc mộng Nam Kha", ý nói giấc mộng đẹp đẽ và ngắn ngủi
Theo truyền thuyết, thần tài chính là Triệu Công Minh, người đời nhà Tần. Ông lánh đời đi tu tại núi Chung Nam. Về sau đắc đạo, ông được phong làm Chính Nhất Huyền Đàn Nguyên Soái, coi việc đuổi trừ ôn dịch, cứu bịnh trừ taị Hơn nữa, ai bị oan ức đến cầu cứu ông thì được giúp đỡ. Người buôn bán thì cúng cầu ông để được phát đạt may mắn.
Người ta thường vẽ ông thành hình một người mặt đen, râu rậm, tay cầm coi, cưỡi cọp đen. Dân gian còn gọi ông là Tài Bạch Tinh Quân hay Triệu Công Nguyên Soái.
Tứ Hỉ phát xuất từ quan niệm của người Trung Hoa, cho rằng trong đời người, có 4 điều tốt lành mà ai cũng đáng vui mừng: Cữu hạn phùng cam vũ Tha hương ngộ cố tri Động phòng hoa chúc dạ Kim bảng quải danh thì.
Có nghĩa là:
Hạn hán lâu ngày nay có mưa Nơi xứ lạ quê người gặp được bạn cũ Đêm động phòng hoa chúc của vợ chồng mới cưới Lúc thi đỗ bảng vàng.
Với một số đối tượng, thì có khuyên bảo, dạy dỗ đến đâu cũng vô ích, không có tác dụng gì. Công sức dạy bảo khuyên nhủ đó cũng như "nước đổ đầu vịt" mà thôi.
Như đã biết, đầu vịt đã bị thon, lại hơi nhô. Lông ở đầu vịt thường dày và mượt. Thành ra, nước đổ lên đầu vịt cứ trôi tuồn tuột, chẳng dành thấm vào đâu được. Hiện tượng có thực này dễ làm người ta liên tưởng đến việc không tiếp thu lời khuyên bảo ban của một số người. Ở họ, dẫu có cố công giảng giải, răn bảo bao nhiêu thì cũng vô ích. Họ không ghi nhớ, không hiểu ra do kém trí thông minh, ít hiểu biết hoặc trì độn. Nhưng cũng có khi không phải vì kém cỏi, tối dạ mà là do sự bướng bỉnh, gàn quấy, hiểu cả đấy, biết là lời hay lẽ phải đấy, nhưng cứ không nghe theo không làm theo như chẳng nghe gì cả. Kẻ dốt nát thì không tiếp nhận lời dạy bảo là chuyện bình thường. Họ cứ ù ù cạc cạc như vịt nghe sấm. Nói với họ rõ là chán, nói với đầu gối còn hơn. Như vậy, cả kẻ dốt nát và kẻ bướng bỉnh đều gặp nhau ở chỗ là mọi lời giáo huấn, chỉ dẫn đều vô tích sự, đều vô dụng, không mang lại hiệu quả gì.
Dần dần thành ngữ "nước đổ đầu vịt" được mở rộng để chỉ sự vô tác dụng, vô ích, không có kết quả nói chung.
Gần nghĩa với "nước đổ đầu vịt" còn có một loạt thành ngữ như: như nước đổ lá khoai (môn), như nước đổ đầu chày...
Cá sấu là một loại bò sát mạnh bạo, ăn thịt động vật mà nó bắt được. Loài vật này có thể tấn công và bắt những con vật to lớn khoẻ mạnh như trâu bò và có khi là con người khi vô tình rơi vào phạm vi hoạt động của nó. Do đó người ta xếp cá sấu vào loại động vật hung bạo nguy hiểm. Có một điểm đặc biệt là sau khi nuốt chửng con mồi, khoé mắt cá sấu lại chảy nước tương tự như con người chảy nước mắt khóc thương ai đó. ..Vì sự tương quan này người ta nghĩ là cá sấu đã khóc cho nạn nhân của nó, kẻ vừa bị nó cướp đi sinh mạng.
Dựa vào tính cách khóc thương kiểu của cá sấu này, người ta liên tưởng đến những hạng người giả dối trong xã hội. Một mặt hại người, hại bạn, một mặt thì nói lời tử tế hiền lành. Một mặt thì làm điều xằng bậy, một mặt nói lời giả nhân, giả nghĩa.
Trong dân gian còn có câu "miệng thì nam mô bồ tát, trong bụng vác một bồ dao găm”. Hạng người này thật là nguy hiểm!
Voi là con vật to lớn so với nhiều loài động vật, ngôn ngữ dân gian thường ví von “to như voi.” Thúng là cái rổ sâu, đường kính lớn hơn cái rổ thường, đan bằng tre, dùng đựng thóc, gạo, đậu hay ngô khoai. Đọ với con voi, cái thúng gánh ở hai đầu quang gánh hay cắp bên nách người đàn bà nông thôn, rõ ràng là rất nhỏ, úp nguyên cái đầu voi đã không lọt, nói chi cả mình voi?
Vì vậy, câu tục ngữ “Lấy thúng úp voi” diễn tả:
1. Một việc sai trái lớn tầy đình mà toan che đậy bằng lý lẽ thiếu sót, không đủ, khiến dấu đầu hở đuôi.
2. Dùng biện pháp nhỏ để giải quyết việc lớn, không thích hợp.
Người phụ nữ bao giờ cũng có thời xuân sắc, trẻ trung, lọt vào mắt xanh bao chàng trai, và làm cho họ say mê, đeo đuổi. Nhưng thời đó cũng phải qua, nhan sắc cũng tàn tạ theo thời gian năm tháng, đó là lúc nhạt phấn phai hương:
Ai cũng hiểu thành ngữ nhạt phấn phai hương chỉ sự tàn phai nhan sắc do tuổi tác của người phụ nữ. Nhưng hiểu hương, phấn trong thành ngữ này là gì thì lại không đơn giản. Thoạt tiên, nhiều người cho rằng hương, phấn ở đây là các loại xa xỉ phẩm dùng để hoá trang, tôn thêm sắc đẹp cho người phụ nữ. Vậy thì nhạt phấn phai hương có liên quan gì đến tuổi già? Nhạt phấn phai hương trong trường hợp phấn hương là đồ hoá trang chỉ liên quan đến cách sống, lối sống cá nhân, do chủ quan tạo ra. Trong khi đó, tuổi già là do quy luật khách quan chế định, tác động. Thành ra, cách hiểu này chưa thoả đáng.
Thực ra, phấn hương trong nhạt phấn phai hương là hệ quả của sự ước lệ. Trước đây người ta ví người phụ nữ như một bông hoa (làm hoa để người ta hái, làm gái để người ta thương). Lúc còn xuân sắc, đương thì cũng là lúc hoa vừa mới nở, đang đưa hương và khoe sắc phấn. Lúc hoa tàn, thì phấn hương sẽ phai nhạt. Khi người con gái về già, thì nhan sắc tàn tạ dần đi cũng tựa như hoa tàn thì hương phấn tất phải nhạt phai. Như vậy, theo phép ước lệ của truyền thống văn hoá cổ thì hương, phấn trong nhạt phấn phai hương chính thực là hương phấn của hoa. Tuy nhiên về sau này người ta dễ dàng bỏ qua điều đó, nghiễm nhiên xem phấn, hương trong thành ngữ này là các chất hoá trang thường dùng của phụ nữ. Cứ vậy, người ta chỉ hiểu ý nghĩa chung của thành ngữ mà mặc nhiên xem phấn hương là chuyện đã biết và dễ hiểu như thế. Theo cách hiểu này và theo khuôn mẫu có sẵn của nhạt phấn phai hương người ta tạo lập các dạng thức mới của thành ngữ này, lệ như nhạt phấn phai son (hay phai son nhạt phấn):
Những người kém thông minh, chậm hiểu, dốt nát, khờ dại thường bị chế giễu bằng thành ngữ “dốt có đuôi”. Thành ngữ này có xuất phát điểm và quá trình chuyển dịch rất thú vị.
Nhiều người cho rằng, thành ngữ “dốt có đuôi” xuất hiện gắn liền với chế độ khoa cử dưới thời phong kiến. Thoạt tiên, thành ngữ này chỉ có ý chê bai một đối tượng không đến nỗi dốt nát. Họ cũng là người có đỗ đạt trong kì thi hội, thi đình hẳn hoi. Số là, sau kì thi, những người trúng tuyển được tập trung lại để yết kiến vua. Họ được sắp xếp thứ tự từ người đỗ cao nhất đến người đỗ thấp nhất (tức đứng cuối, đứng rốt) với quần áo mũ miện nhà vua ban phát chỉnh tề. Người đứng sau cùng đội chiếc mũ có tai dài, vì thế người ta mới chế giễu là “có đuôi”. Rõ ràng trong mắt sĩ tử và dân chúng thì người đội mũ có đai dài trông như cái “đuôi ấy”, vẫn là người dốt hơn cả so với những người có mặt. Từ đây, trong lời ăn tiếng nói của nhân dân xuất hiện thành ngữ “dốt có đuôi” để chế giễu tất cả những ai dốt nát.
Một số người khác lại cho rằng, thành ngữ này có xuất xứ từ một câu chuyện cười Việt Nam. Chuyện rằng, một thầy đồ được mời đến cúng cho gia chủ tên là Tròn. Nhưng than ôi, thầy đồ gì mà chữ nghĩa chẳng được bao lăm. Đến cái tên của gia chủ là Tròn mà ông ta cũng chẳng biết viết, đành khoanh một vòng tròn. Chẳng may, có một kẻ tinh nghịch đã sổ thêm một nét vào “chữ Tròn” ông vừa mới viết. Khi đọc sớ, thầy không biết, cứ việc theo hình vẽ mà đọc tên gia chủ là “Gáo”. Chủ nhà giật mình, cải chính. Ông thầy cúng biết mình nhầm, xấu hổ lắm, những mong có lỗ nào mà chui ngay xuống đất. Qua câu chuyện này, thành ngữ “dốt có đuôi” có hai cách hiểu về xuất xứ và cũng có hai biến thể khác nhau: “dốt có đuôi” “dốt có chuôi”. Dẫu hiểu thế nào thì thành ngữ này cũng chỉ biểu hiện ý nghĩa: “dốt nát và không giấu được cái dốt của mình”.
Để biểu thị ý nghĩa “dốt nát, không biết gì”, ngoài thành ngữ “dốt có đuôi”, “dốt có chuôi”, trong tiếng Việt còn có các thành ngữ “dốt đặc cán mai”, “dốt như bò”. Tuy nhiên, các thành ngữ này không có nét nghĩa “không giấu được cái dốt, cái dốt bộc ra ngoài”, chúng chỉ đơn thuần biểu thị mức độ cao nhất của sự dốt nát mà thôi.
Trong cuộc sống, đôi khi chỉ vì tham những lợi lộc nhỏ mọn, trước mắt mà người ta bỏ qua những nguồn lợi lâu dài, to lớn hơn. Vậy là tham bát bỏ mâm.
Ý nghĩa trên được hình thành nhờ sự so sánh trực quan và nôm na của tư duy dân gian: Bát chỉ là phần nhỏ nằm trong mâm cỗ lớn. Thế mà cố giành lấy bát, quên rằng mâm cỗ còn nhiều hơn, còn to hơn, âu cũng là tư tưởng tầm thường, được miếng nào hay miếng ấy, không biết nhìn xa trông rộng. Vì lẽ đó, thành ngữ tham bát bỏ mâm thường cũng được dùng để phê phán lối nhìn thiển cận, cách làm ăn manh mún, thiếu tính toán. Bỏ được tư tưởng tham bát bỏ mâm thì mới có thể tiếp cận được lối làm ăn lớn.
Vàng, thau là hai kim loại khác nhau. Vàng thuộc loại kim loại quý, hiếm, có giá trị cao. Còn thau chỉ là hợp chất giữa đồng và kẽm, có màu vàng lợt. Về hình thức, vàng và thau có màu sắc như nhau, dễ nhầm lẫn. Nhưng về bản chất, vàng, thau hoàn toàn khác nhau, không thể đánh đồng cùng một hạng, một thang giá trị. Đối với con người và các hiện tượng trong cuộc sống cũng tương tự như vậy. Giữa cái tốt, cái xấu, cái thật, cái giả, giữa cái đúng và cái sai... đôi khi dựa vào hình thức để phân biệt, nhận biết tính xác thực của chúng cũng không đơn giản. Sự nhầm lẫn trong đánh giá, nhận biết các chân giá trị này, thường được nhân dân ta biểu thị bằng thành ngữ "vàng thau lẫn lộn".
Trong tiếng Việt, thành ngữ "vàng thau lẫn lộn", ngoài việc hàm chỉ sự nhận thức lẫn lộn các chân giá trị, còn được để đánh giá bản chất của các hiện tượng, các hành động. Một xã hội "vàng thau lẫn lộn", một tập thể "vàng thau lẫn lộn"... cũng là một xã hội, một tập thể không còn thể thống, không còn nề nếp và đang suy thoái, lộn xộn, đảo điên.
Vô tình đánh giá, nhận biết sai các chân giá trị, làm cho "vàng thau lẫn lộn" là chuyện thường gặp. Đó là kết quả của trình độ nông cạn, thiếu kinh nghiệm và đôi khi còn là kết quả sự cẩu thả thiếu thận trọng, "nhìn gà hoá cuốc". Nhưng cố ý làm cho "vàng thau lẫn lộn", để đổi trắng thay đen lại là hành động có ý thức, hành động bịp bợm, thâm hiểm. Bản chất xấu xa ti tiện của loại hành động này cần được vạch mặt chỉ tên.
“Tình cờ chẳng hẹn mà nên Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường”
Có một cuộc hội ngộ thật ngẫu nhiên và đầy lý thú. Một anh chàng rao bán cám làm thức ăn cho lợn gà, mà trong gánh chỉ rặt một thứ mạt cưa! Lại nữa một kẻ rêu rao bán dưa chuột, nhưng những thứ bán ra chỉ toàn là mướp đắng! Trớ trêu thay, cái phường mạt cưa mướp đắng ấy lại gặp nhau. Thành ngữ mạt cưa mướp đắng hay mướp đắng mạt cưa, do chỗ được hình thành từ câu chuyện vui như trên, nó được dùng để chỉ những kẻ chuyên đi lừa đảo trong xã hội.
ANTĐ Một nghiên cứu mới nhất về độ sạch sẽ của các phòng khách sạn đã chỉ ra rằng du khách nên ăn sáng trong... nhà vệ sinh hơn cả trên giường ngủ
Hầu hết mọi người đều có ấn tượng kinh khủng về việc ăn sáng trong nhà tắm là vô cùng mất vệ sinh. Nhưng một nghiên cứu mới đây của nhà vi sinh vật học Keith Warriner đã chỉ ra rằng nếu một phòng vệ sinh được dọn dẹp cẩn thận còn chứa ít mầm bệnh hơn chăn, ga, gối, đệm trên giường ngủ. Warriner cho biết nhà vệ sinh và phòng tắm là nơi được dọn dẹp thường xuyên và nhiều nhất trong khách sạn, vì thế có ít vi khuẩn nhất.
Trong khi những nơi thường được coi là sạch sẽ, vệ sinh nhất như giường ngủ thì lại ít được quan tâm hơn và ủ trong đó nhiều mầm bệnh. Thực tế là khi ở trên giường ngủ, chúng ta để lộ nhiều phần cơ thể nhất và để lại trên giường ngủ nhiều tế bào chết của mình, thậm chí là cả những chất dịch khó bị phát hiện sau khi ân ái. Nhiều nhân viên khách sạn thú nhận rằng nếu không nhìn thấy vết bẩn trên chăn đệm, họ sẽ không thay giặt chúng mà chỉ trải lại phẳng phiu khi dọn phòng cho khách.
Trong tuyên bố ngày 20.12, Apple thừa nhận có can thiệp để làm giảm hiệu suất hoạt động của các điện thoại đời cũ nhằm ngăn chặn tình trạng máy có thể bị tắt nguồn đột ngột do pin của máy không đáp ứng được nhu cầu xử lý, theo tờ USA Today.
Hãng này cho biết pin lithium khó hoạt động tốt trong thời tiết lạnh, dung lượng pin thấp hoặc khi đã bị chai. Một nhóm khách hàng kiện Apple vì cho rằng công ty yêu cầu người dùng nâng cấp hệ điều hành iOS nhằm làm giảm tốc độ xử lý của các điện thoại đời cũ như iPhone 5, 6 và 7.
Một đơn kiện khác cáo buộc hãng làm điều này trái với ý muốn của chủ nhân điện thoại và cho rằng đây là chiêu để Apple dụ khách mua điện thoại mới với hiệu năng tốt hơn.
*** Bảo tháp ở các chùa : Đi đến những ngôi chùa Việt Nam, thấy những ngọn tháp cao, thực ra không cao lắm, chừng mười đến mười ba thước, những tháp thấp hơn chừng ba đến năm thước. Người ta cũng quan niệm đơn giản, đó là tháp mộ của các vị sư từng trụ trì nơi đất Phật này, hoặc giả, đó là nơi đựng xá lỵ của các vị cao tăng. Người ta cho rằng, khi Phật tịch diệt, ngài đặt cái bát lên trên bộ quần áo, trao lại cho đệ tử, nên gọi là trao y bát, tức là truyền thừa cho người kế tục. Cái bát úp trở thành hình thức mộ tháp ban đầu Tháp của Phật mang ý nghĩa về sự giác ngộ. Ở đây, ngôi chùa không phải là nơi người ta có thể cầu mong sự ban phát hay giúp đỡ gì, mà hãy tự hiểu và tự giúp lấy mình. Các ngọn tháp cũng chính là con người, khi ta cao thì ngọn tháp cao, khi ta thấp thì ngọn tháp thấp, cao hay thấp cũng vẫn ngần ấy, địa - thủy - hỏa - phong - không. Có khát vọng tinh thần thì vươn cao đến trời xanh, không có thì cứ việc cắm cổ nhai cơm mà uổng cả đời người (Trần Thái Tôn).
*** Bạn biết gì về nước BHUTAN ? * Bhutan (tên chính thức là vương quốc Bhutan) nằm bên triền đông của dãy Himalaya, giữa Trung Quốc và Ấn Độ nên đôi lúc bị nhầm lẫn với Nepal * Về quan hệ ngoại giao, Bhutan bắt đầu chấm dứt tình trạng cô lập với thế giới vào đầu thế kỷ 20, khi thiết lập quan hệ ngoại giao với Đế quốc Anh (Cũng nhờ vậy mà sau này các vua của Bhutan đều đi du học Anh về, chương trình giáo dục ở Bhutan cũng được thiết kế theo chuẩn của Oxford và người dân Bhutan nói tiếng Anh rất giỏi). Đến năm 1949, Bhutan thiết lập quan hệ ngoại giao với nước láng giêng Ấn Độ và đặc biệt hơn, họ chưa bao giờ có quan hệ ngoại giao với Trung Quốc dù cũng liền kề biên giới. Thu nhập bình quân đầu người của Bhutan cao thứ nhì trong khu vực Nam Á, chỉ sau đảo quốc Maldives. * Sân bay ở vùng toàn núi đồi hiểm trở, phi đạo ngắn, đòi hỏi phải có một đội ngũ phi công giàu kinh nghiệm, có chưa tới 10 phi công có kinh nghiệm mới cất và hạ cánh máy bay ở đây. * Không có đèn tín hiệu giao thông trên đường phố! Điều mà các bác tài người Việt.......rất.......thích !
1. Trong khi người nước ngoài có chí cao, dám chết vì việc nghĩa, vì lợi dân ích nước; thì người nước mình tham sống sợ chết, chịu kiếp sống nhục nhã đoạ đày.
2. Trong khi người ta dẫu sang hay hèn, nam hay nữ ai cũng lo học lấy một nghề; thì người mình chỉ biết ngồi không ăn bám.
3. Trong khi họ có óc phiêu lưu mạo hiểm, dám đi khắp thế giới mở mang trí óc; thì ta suốt đời chỉ loanh quanh xó bếp, hú hí với vợ con.
4. Trong khi họ có tinh thần đùm bọc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau; thì ta lại chỉ quen thói giành giật, lừa đảo nhau vì chữ lợi.
5. Trong khi họ biết bỏ vốn lớn, giữ vững chữ tín trong kinh doanh làm cho tiền bạc lưu thông, đất nước ngày càng giàu có; thì ta quen thói bất nhân bất tín, cho vay cắt cổ, ăn quỵt vỗ nợ, để tiền bạc đất đai trở thành vô dụng.
6. Trong khi họ biết tiết kiệm tang lễ, cư xử hợp nghĩa với người chết; thì ta lo làm ma chay cho lớn, đến nỗi nhiều gia đình bán hết ruộng hết trâu.
7. Trong khi họ ra sức cải tiến phát minh, máy móc ngày càng tinh xảo; thì ta đầu óc thủ cựu, ếch ngồi đáy giếng, không có gan đua chen thực nghiệp.
8. Trong khi họ giỏi tổ chức công việc, sắp xếp giờ nghỉ giờ làm hợp lý, thì ta chỉ biết chơi bời, rượu chè cờ bạc, bỏ bê công việc.
9. Trong khi họ biết gắng gỏi tự lực tự cường, tin ở bản thân; thì ta chỉ mê tín nơi mồ mả, tướng số, việc gì cũng cầu trời khấn Phật.
10. Trong khi họ làm việc quan cốt ích nước lợi dân, đúng là “đầy tớ” của dân, được dân tín nhiệm; thì ta lo xoay xở chức quan để no ấm gia đình, vênh vang hoang phí, vơ vét áp bức dân chúng.
*** Tin khủng khiếp : Cuối thế kỷ 21, con người không cần phải yêu nhau nữa, chỉ cần.............chat qua mạng là có.....con ngay ! Phụ nữ.....sướng nha, không phải mang nặng đẻ đau nữa ! Nhưng, suy cho cùng thì, con người ta bon chen, hãm hại người khác và tung ra bao nhiêu trò bỉ ổi để thỏa mãn dục vọng của mình mà bị..................mất sướng như vậy thì, đời còn gì vui ?
*** Gởi bác Phúc Lai, Vietnamnet ! Bác đã viết :........Đề xuất ‘Giáo dục’ thành ‘Záo zụk’: Chửi rủa giúp tiếng Việt ‘đẹp’ hơn?........Việc đánh giá chính xác những ưu – nhược điểm của nghiên cứu có lẽ sẽ cần đến các nhà chuyên môn...........PGS – TS Bùi Hiền có lý khi cho rằng một số khía cạnh của cách biểu đạt hiện nay làm mất khá nhiều thời gian. Từ góc độ người viết thì đúng vậy. Đơn cử, riêng chữ “gi” (giê-i) và “d” (dê đê) rất nhiều trường hợp phải tra từ điển nếu không muốn bị lỗi chính tả. Còn rất nhiều ví dụ khác nữa, điều đó cho thấy việc cải tiến phương pháp biểu đạt vẫn dùng chữ quốc ngữ, thực sự là một nhu cầu có thật..........Đề xuất của vị PGS.TS có thể nó chưa hoàn thiện, chưa đúng đắn… nhưng không đáng bị đối xử như vậy. Cứ cho là nó kém cỏi thật đi, nhưng nếu chúng ta cứ đối xử với nó một cách thiếu văn hóa, thì liệu nền văn hóa của toàn dân tộc có cao lên được chăng? Và với sự thắng thế của kiểu ngôn ngữ mạng hiện nay, bạn nghĩ tiếng Việt sẽ được “cải tiến” đến đâu? * Bác PL ạ, tiếng Việt, theo tôi, đã đủ đẹp rồi, không cần đến các nhà chuyên môn cũng biết cái " công trình vĩ đại " của bác BH là cực kỳ nhảm nhí, chẳng qua là nó được copy cách gõ tắt của cư dân mạng, thêm.......mắm, muối vào cho ra vẻ mà thôi..... * Bác........dốt chính tả vì ít đọc sách, đó là việc của bác ! * Bác chỉ ra xem ai có nhu cầu cải tiến......theo cách của bác BH nào ? * Nếu ta không lên tiếng, ngay năm sau, Bộ GD cho áp dụng ngay cải tiến này thì sao ? Bộ này vốn thích cái mới mà ! * Dù biết là bác........gõ hộ cho bác BH, chả có ý xây dựng gì cả, nhưng tôi cũng cố trả lời..... bác cố đọc bài này vì, nhờ đó, bác sẽ......giỏi chính tả ngay thôi !!!!! Chào nhé !
Hoàng tử Miteb bin Abdullah của Saudi Arabia đã được thả tự do sau khi đạt "thỏa thuận sắp đặt có thể chấp nhận được" với chính quyền nhằm thoát tội tham nhũng.
Reuters dẫn lời một quan chức Saudi cho biết hôm 28/11 rằng Hoàng tử Miteb đã thừa nhận ông có tham nhũng và chấp nhận chi trả hơn 1 tỷ USD để được tự do. Ba người khác có liên quan đến các nghi án tham nhũng cũng đã đạt được thỏa thuận dàn xếp với chính quyền.........
*** A bê xê !!! Quản trị viên nhómCó 1 điều hết sức nực cười : Nếu chữ viết chỉ là ký hiệu để ghi lại tiếng nói, vậy tại sao ta không thống nhất được cách dùng, như i hoặc y ? Nếu ta quy định là Bác sĩ thì nó là......sĩ ! Có gì khó đến nỗi không làm được ? Đã vài chục năm nay : ta dạy trẻ con là a bờ cờ, nhưng các phương tiện truyền thông quốc gia lại dùng a bê xê.......là sao ? Mấy bác trong Hội ngôn ngữ giải thích xem nào !
*** Tiên học lễ : Hằng ngày, ta vẫn chứng kiến cảnh người trẻ - mà tôi gọi là "dân chơi" - vì họ chẳng biết chào hỏi ai, nói năng cộc lốc, không thưa gởi.....(cứ xem cảnh mấy bé trên TV, khi được hỏi gì thì....trả lời ngay quên cả dạ, thưa thì biết ngay gia đình em thuộc loại nào !)... Không cần biết 1 người thông minh, tài giỏi cỡ nào nhưng qua cách cư xử của anh ta, ta có thể biết ngay sau này, người này sẽ trở thành gì, có ích gì cho cộng đồng hay không ! Dù sao, cũng còn được an ủi khi nhìn hình ảnh mấy em ở trường LHP cúi chào bác bảo vệ ở cổng trường mỗi ngày, hoá ra, " chỉ là do....có dạy hay không !!!! " mà thôi ! Cầu chúc cho các thầy cô mạnh khoẻ và luôn gặp an lành !
*** Đình làng : Trong các làng ở VN có những ngôi đình, được coi là trung tâm của làng, là nơi các hương chức bàn việc làng, nơi tế tự, thờ các vị thành hoàng và là nơi sinh hoạt tập trung của dân làng. Trước mặt tiền của ngôi đình, ta thường thấy có 1 tấm bình phong có đắp nổi hình chúa sơn lâm và phía sau thường có bệ thờ Thần nông, vị thần làm ra lúa gạo. Theo tục lệ, người ta thờ Thần nông ngoài trời, không có mái che vì theo truyền tích, bà Cửu thiên huyền nữ, khi dạy dân làm nhà mái xuôi, bà đã chống tay lên hông mình để minh họa cho dễ hiểu, và điều đó đã làm vị Thần nông tự ái, không chịu ở trong nhà vì như thế có nghĩa là ở " dưới nách phụ nữ " !!!!! Xem ra, thần nam cũng nhiều tự ái lắm chứ !!!!!!!!!!!
*** Vũ trường : Có bạn, ở tỉnh xa, hỏi : " Trong vũ trường có gì ? " Thì cũng là ban nhạc, ca sĩ, dàn đèn màu, sàn nhảy đủ rộng cho tối thiểu 20 cặp quay cuồng ( thường được rắc phấn bột cho đỡ trơn ). Ban nhạc thường chơi theo tour, thứ tự là các điệu Paso, Rumba, Cha cha, Slow, Bebop, Boston, Valse, Tango, đèn màu thay đổi theo từng điệu. Chơi được 2 tour thì ban nhạc tạm nghỉ 15 phút, vũ trường bật nhạc Disco để các bạn trẻ.......lắc tiếp ! Sau đó, ban nhạc chơi thêm được 1 tour nữa. Cứ tưởng tượng, vận động suốt 3 giờ liên tục là bạn khỏe hơn 3 lần tập thể dục buổi sáng............. Có bạn lại thắc mắc : khi xem film, chỉ thấy người ta lắc lia lịa chứ có nhảy nhót gì đâu ? Đúng vậy, đó là hình ảnh mà bạn thấy trong các quán bar hoặc sàn nhảy discotheque, nơi mà họ chỉ sử dụng nhạc disco ( phát từ dàn máy ). Với điệu này, bạn không cần biết.....nhảy mà chỉ cần sức khỏe để lắc, vì để biết khiêu vũ, bạn phải biết sơ qua về nhạc, nhịp và các bước nhảy, nếu ban nhạc chơi điệu Boston ( nhịp 3/4 ) mà bạn tưởng là điệu Slow ( nhịp 2/4 ) thì có nhiều khả năng là bạn sẽ .....đạp lên chân partner ! Nghề chơi cũng lắm công phu và tốn...........tiền !
Khổng phu tử hoặc Khổng tử là danh hiệu tôn kính của hậu thế cho Khổng Khâu hay Khổng Khưu tự Trọng Ni. Ông được suy tôn như một trong những nhà khai sáng Nho giáo, đồng thời là giảng sư và triết gia lỗi lạc bậc nhất cõi Á Đông. Wikipedia
Khổng Khâu sinh trưởng tại ấp Trâu, thôn Xương Bình, nướcLỗ[8](nay là huyện Khúc Phụ, tỉnhSơn Đông,Trung Hoa) cuối thờiXuân Thu. Nhiều sử ký nói rằng ông là con của một gia đình nghèo, nhưng cụ tổ ba đời vốn cũng thuộc dòng quý tộc đã sa sút từ nướcTốngdi cư đến nước Lỗ.
Cha ông là Khổng Hột lấy bà Nhan Chinh Tại mà sinh ra ông. Năm lên ba, Khâu mồ côi cha. Bà Nhan Chinh Tại lúc đó mới 20 tuổi không sợ khó khăn vất vả đã đưa Khổng Tử đến sống ở Khúc Phụ, thủ phủ nước Lỗ, mong ông được sống và lớn lên trong một điều kiện tốt hơn. Khi lớn lên, ông phải làm lụng vất vả để giúp đỡ mẹ, nhưng rất ham học. Ông từng nói "... Lúc nhỏ bị nghèo hèn, ta phải làm nhiều nghề nên biết được nhiều việc nhỏ mọn. Người quân tử cần biết nhiều như vậy không? Không cần biết nhiều nghề như vậy.[9]". Năm ông 16 tuổi thì mẹ qua đời, Khổng Tử từ đó sống một cuộc sống thanh bạch, hàng ngày vẫn chăm chỉ học hành, mong muốn thực hiện được ước vọng của mẹ.