
Hiện trạng TỨ ĐỔ TƯỜNG
Bài của học giả Anh Tuấn
Dẫn nhập
Mỗi chúng ta khi nói đến ba chữ tứ đổ tường thì ai cũng đều có một nhận xét không mấy thiện cảm đối với tệ nạn xã hội này vì nó đã làm hư hỏng biết bao con người, làm tan nát biết bao gia đình và xã hội, thậm chí làm suy nhược hủy hoại cả một thế hệ, một quốc gia nữa. Hôm nay, chúng tôi muốn chia sẻ cùng quí vị những hiểu biết xoay quanh tệ nạn này trên bình diện tâm sinh lý của con người cũng như trên bình diện văn hóa xã hội như thế nào.
Vấn đề là tại sao người ta ai cũng biết tứ đổ tường là tệ hại nhưng nó lại luôn luôn có mặt trong cuộc sống không thể nào bài trừ được. Dầu bao nhiêu biện pháp, luật pháp được đặt ra nhưng vẫn không có kết quả, thậm chí các tôn giáo cũng tham gia cấm đoán nữa, nhưng cấm thì vẫn cấm mà phạm thì vẫn phạm là nghĩa tại sao? Chúng ta không tìm được nguyên nhân cuối cùng hay là tìm hiểu được nhưng khó nói, đành làm ngơ, bỏ ngỏ, bởi lẽ thú đam mê của con người nó nằm trong phạm trù bản chất sinh học, mà bản chất thì khó lòng mà thay đổi, cho nên con người là nạn nhân của chính mình. Nghiêm chỉnh mà nói, những hệ luỵ do Tứ Đổ Tường mang lại là một thực trạng không chối cãi, nhưng trong một tư duy hạn hẹp nào đó, ta phải công nhận ta đã đóng góp tích cực cho xã hội bằng cách đào tạo ra những nhân tài cho xã hội: nhà văn, nhà thơ, học sĩ, nhạc sĩ, cũng như những anh hùng hào kiệt đem lại nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa nhân loại nhờ vào Tứ Đổ Tường.
Vô hình chung Tứ Đổ tường đóng vai trò như một chất xúc tác, một thứ tiếp liệu không chối cãi được. Trong tài liệu này nhận định trên được lập lại nhiều lần, ta nên giảm thiểu diễn dịch nầy để tránh nhàm chán.
Con người là một sinh vật có tư duy, vấn đề là phải biết xử dụng tư duy của mình áp chế những tệ hại của đam mê vật chất nâng nó lên hàng sinh hoạt văn hóa cao, phục vụ và tạo dựng hạnh phúc cho con người.
Định nghĩa TỨ ĐỔ TƯỜNG
Tứ: Bốn, thứ tư.
Đổ: vách.
Tường: bức tường xây bằng gạch.
Tứ đổ tường là bốn vách tường bao kín, không có lối thoát ra ngoài
Các bậc nho sĩ Việt từ xa xưa quen nói : 酒色財氣四堵牆 (Tửu sắc tài khí tứ đổ tường). Nói như thế là để so sánh bốn bức tường kín mít ấy với bốn điều tệ hại: Tửu, Sắc, Tài, Khí, mà hễ con người đam mê dấn thân vào đó thì như là vào bốn bức tường không lối thoát, chịu chết trong đó luôn, hư hỏng cả cuộc đời, uổng phí một kiếp sanh.
1. Tửu: rượu. Say mê rượu thịt, nhậu nhẹt say sưa, cuồng tâm loạn trí, trí não hư hỏng, tinh thần suy nhược, hết biết phải trái, hư thân mất nết, không còn phẩm chất con người. Cho nên người xưa mới nói: Tửu nhập tâm như hổ nhập lâm, (rượu nhập tâm như cọp vào rừng), hay Tửu nhập tâm như cẩu cuồng tọa thị (rượu nhập tâm như chó điên ngồi tại chợ).
2. Sắc: sắc đẹp của phụ nữ. Ham mê thú vui xác thịt nam nữ, chơi bời hư hỏng, phạm tội tà dâm, tinh mất khí hư, thần hồn mê muội, bỏ bê gia đình. Cho nên người xưa có câu: Sắc bất ba đào dị nịch nhân:Sắc đẹp phụ nữ không có sóng mà dễ nhận chìm người.
3. Tài: cờ bạc. Ham mê cờ bạc, tham lam lợi lộc, làm quấy liều mạng, bán đồ bán đạc để có tiền nhập sòng, tan nhà nát cửa. Cho nên người xưa nói: Cờ bạc là bác thằng bần.
4. Khí: hút thuốc phiện, hít chích các chất ma túy, nghiện ngập, thân thể bịnh hoạn, mất hết nhơn phẩm, trộm cắp hay cướp giựt để có tiền mua thuốc, hút hít cho thỏa cơn ghiền.
Sách Minh Tâm Bửu Giám có bài thi về Tứ đổ tường:
Tửu sắc khí tài, tứ đổ tường, Đa thiểu hiền ngu tại nội sương. Nhược hữu thế nhân khiêu đắc xuất, Tiện thị Thần Tiên bất tử phương.
Nghĩa là:
Tửu sắc khí tài, tứ đổ tường,
Ít nhiều ngu trí ở trong rương. Nếu như người thế tung ra khỏi, Ấy cũng Thần Tiên bởi diệu phương
Tóm lược về Định Nghĩa
Tứ đỗ tường là tiếng Nam Bộ, thực ra đỗ là nói theo khẩu âm Nam Bộ, đúng ra là đổ tường. Tiếng Việt có cái lạ là đôi lúc dùng lẫn hán và việt, nên đôi lúc bị hiểu lầm hoặc không lọt tai.Tứ đổ tường có nghĩa là 4 cái nghiệp phá gia chi tử. Bốn cái nghiệp đó là bốn loại lạc thú trần gian:Cờ bạc -rượu chè - trai gái - hút sách. Có nghĩa là nếu vướng vào một trong bốn thứ trên, thì trước sau gì cũng tan nhà nát cửa mà thôi. Còn nếu nhiều hơn một, hay nghiện luôn cả bốn thì càng sập nhà cấp kỳ
Ẩn ý của việc sử dụng chữ Hán của người xưa thật là thâm thuý, sự khám phá này khả tín vì những lý do sau:
Tuy tất cả đều là thú đam mê, nhưng Tứ đổ Tường không xuất hiện cùng một lúc trong xã hội mà qua thời gian, qua trình độ văn hóa kinh tế của mỗi người ( Thí dụ con người chưa biết đếm, biết tính thì làm sao có cờ bạc? Khoa học kỹ thuật chưa dạy cất rượu thì làm sao mà say sưa?). Như vậy Tứ Đổ Tường có từ lúc nào, cái nào trước, cái nào sau? Do đó định nghĩa của nó tuỳ thuộc vào những yếu tố này:
* N * Nguyên nhân của sự đam mê: bản chất hay lý tính?
Nhân chi sơ, tính bản thiện, Câu này xuất xứ luận điểm của Mạnh Tữ về nhân tính. Tiếp theo là câu: tính tương cận, tập tương viễn : câu này xuất xứ luận điểm của Khổng Tử. Đó là hai câu nói mở đầu của cuốn Tam tự kinh ( sách vỡ lòng dùng dạy trẻ của Trung Quốc) được soạn thảo như hát vè đọc cho trẻ học dễ nhớ. Tóm lại hai nhà hiền triết này cho rằng con người có tính lương thiện, nhưng có thể chịu ảnh hưởng của môi trường sống mà biến đổi. Nói một cách khác thì con người là một sinh vật có tư duy, và tư duy đó đóng vai trò điều khiển cuộc sống con người. Vấn đề đặt ra là tư duy con người chịu ảnh hưởng của Tứ Đổ Tường đến mức độ nào? Nó đã dẫn dắt con người vào những hệ lụy đau khổ ra sao thì quí vị biết rồi.
Thiên Chúa Giáo cho rằng con người sinh ra đã phạm nhiều tội lỗi, cần được cứu rỗi. Trong các điều răn của Chúa, có việc cấm tín đồ gian dâm với vợ bạn (điều trai gái trong Tứ Đổ Tường).Theo Phật Giáo thì con người vi phạm tam giới: tham sân si ( Tham và Si có trong Tứ Đổ Tường) Trong những loại tình cảm của con người: Hỉ (mừng), Nộ (giận), Ai (đau thương), Lạc(vui sướng), Ái (yêu), Ố (ghét), Dục ( muốn) thì Lạc, ái, dục có liên quan đến Tứ Đổ Tường.
Ngoài ra Phật còn cho rằng có 6 nguồn gốc gây sự đam mê gọi là lục căn hay lục dục: mắt, tai. mũi, lưỡi. thân, ý. Như vậy, Phật Giáo đã phân tích khá nhiều về dục vọng con người và chủ trương tu thân và diệt dục. Phật Giáo cấm Phật tử không được uống rượu vì cho rằng rượu là nguyên nhân của mọi tội lỗi và bệnh hoạn, cấm phật tử không được quan hệ tình dục với người không phải là phối ngẫu của mình. Như vậy, qua Tứ Đổ Tường dục vọng con người được giải quyết rất nhiều từ vật chất cho đến tinh thần với nhiều hệ luỵ của nó. Giữa thế kỷ 19, bác sĩ phân tâm học Sigmund Freud (1856—1939) tác giả ba khảo nghiệm về lý thuyết tình dục (1905), ông cho rằng bản năng bị dồn ép vào vô thức trong một điều kiện nào đó. sẽ điều khiển cách hành xử của con người. Bản năng không bao giờ thay đổi, mà môi trường sống và giáo dục huấn luyện đều chỉ là 1 lớp vỏ bọc. Nhận định này vào thời điểm đó bị công kích rất nhiều bởi các nhà duy tâm, nhưng không đầy một thế kỷ sau, khoa di truyền học khám phá ra ge`ne DNA và nhận định của ông mới không thể chối cãi được.
*Tứ Đổ Tường”: Sản phẩm của con người tạo ra nhằm mục đích giải toả dục vọng và bản năng nhưng nó lại là con dao hai lưỡi thẳng tay sát phạt tác giả của nó không chút thương tiếc.Nói đến Tứ Đổ Tường là nói đến 4 cái thú đam mê nhiều hệ luỵ cho xã hội: đó là Cờ bạc, Rượu chè, Trai gái, hút Xách. Bốn danh từ ghép này chứa đựng những đam mê có tác hại khác nhau, có thứ đam mê giới hạn một thời gian nào đó rồi lụn tàn, có thứ đam mê đeo đuổi dai dẳng suốt cả cuộc đời. Nếu tách rời các từ ghép này thì ta có thể kể như sau:
Dân nước nào cũng biết uống rượu, nghiện rượu. Rượu đặc sản được nâng lên hàng quốc tuý. Anh Quốc thì có : whisky, Scotch,Johny Wakker (Ông già chống gậy).Mỹ Quốc thì có LSevengrown, Black and White, Gin. Nga Quốc thì có Volka còn Phap Quốc thì có : Cognac Martel (Remi Martin) Champagne
Riêng Vietnam thì có : Rượu lúa mới, rượu đế Gò Đen, rượu nếp thang Hóc Môn. Rượu đếđược giới văn nghệ bình dân gọi là rượu nước mắt quê hương. Ở Cao nguyên trung phần có rượu Cần của đồng bào Thượng chứa trong một cái ché. Thời Pháp thuộc, người Pháp được quyền bán rượu và á phiện, nơi bán những thứ này có biển đề chữ RA ( Région d’alchool) hoặc RO ( Région d’opium) còn dân thường cất rượu lậu sẽ bị bắt phạt. Phụ nữ Á Châu hầu hết không uống rượu, trái lại phụ nữ Tây Phương nghiện rượu có hạng, họ thường giấu khắp nơi trong nhà, thỉnh thoảng tu một hớp cho đến lúc phải vào Khám cai rượu. Ở nước ta rượu luôn luôn có mặt trong sinh hoạt hàng ngày: rượu lễ, rượu thường, rượu phạt, rượu mừng, rượu hợp cẩn. Đám cưới mâm trầu rượu phải có..
Giới lao động bình dân Việt Nam mát rượu vào hàng thứ 3 thế giới, chỉ sau Mỷ và Pháp, họ uống suốt ngày để trợ lực lao động: khuân vác nặng, đạp xích lô, đạp xe ba gác, thậm chí lái xe nữa .
Rượu là thứ thức uống đa dụng: vui vầy, giải trí giải khuây, lấy cảm hứng, giết thì giờ quên đời. Việc biết uống rượu được coi là nam tính: Dụng tửu phá thành sầu, Nam vô tửu như kỳ vô phong; họ được goị là đệ tử của Lưu Linh ( vua uống rượu của Tầu) là bợm nhậu , và là con trời:
Hiu hiu gió thổi đầu non
Mấy thằng uống rượu là con Ngọc Hoàng
Người say rượu để lộ bản chất tư cách: nơi họ cảm xúc tê liệt và ý thức vô thức tiềm thức rối loạn, khiến họ không nhớ và không biết gì hết cả. Con cái họ chỉ số thông minh kém vì ge`ne di truyền biến ảo.
Có bài vè sau đây dùng trêu chọc mấy chàng say rượu:
Một xị đả phá thành sầu
hai xị mũi chảy đầy râu
Ba xị ngồi đâu ngủ đó
Bốn xị cho chó ăn chè
*Xị= chai xá xị tức là chai root beer của hãng Phượng Toàn trong Chợ Lớn trước 1975 rất nổi tiếng, vỏ chai thường dùng để đong rượu bán. 1 xị=1/4 lit=6 ly whisky nhỏ.
Xin nhắc lại Sàigòn năm xưa, ăn nhậu là một sinh hoạt đặc thù của dân thành phố, đi đâu cũng gặp quán nhậu, từ những quán cóc bán trà lá, rượu đế, đến các quán nhậu bình dân. Quán nhậu là một danh từ rất dễ thương vì tính giai cấp của nó, một hình thức quảng cáo rất phổ biến độc đáo không một đất nước nào có được, đã ngon mà lại rẻ, ở đó giai cấp bình dân được tôn trọng và được phục vụ tận tâm ( khác với các nhà hàng sang trọng Tàu Mỹ quảng cáo phục vụ cung đình, nhưng lại dở). Bước vào quán ăn, ai cũng thấy thoải mái vì tính bình dân của nó. Xin nhắc những quán ăn bình dân của Sài gòn năm xưa: Tám Lọ đường Bùi Thị Xuân và Cống Quỳnh, Ba Râu chợ Xóm Chiếu, Sống Trên Đời cổng bà Xếp Hòa Hưng, các quán hai bên đường Đỗ Thành Nhân, đường hẹp bên này nhìn thấy bên kia, rượu vào sinh ẩu đả, bàn ghế bay qua bay lại nhưng tan cuộc thì đâu vào đó hòa cả làng.! Mỗi ngày khoảng 4 giờ chiều ( giờ tan sở) dân Sàigòn thường ghé tiệm rượu thuốc Vĩnh Sinh Hòa để uống rượu tồn tâm, hoặc uống bia bốc ( bây giờ là bia lên hơi) tại Hồ Văn Ngà Nguyễn Huệ. Một ký giả Tây Phương viết rằng những cơn mưa Hạ vào buổi chiều của Sàigòn có mùi Alchool.
Trong thi ca Việt nam hầu hết các nhân vật trong truyện Kiều đều có đụng đến rượu, chẳng hạn, khi *Kim Kiều gặp lại lần thứ hai:
Chén hà sánh giọng quỳnh tương 453
Giải là hương lộn bình gương bóng lồng 454
* khi Kiều ỏ lầu xanh:
Khi tỉnh rượu lúc tàn canh 1233
Giật mình mình lại thương mình xót xa 1234
* khi Kiều và Thúc Sinh ở Thanh lâu:
Khi gió gác khi trăng sân 1295
Bầu tiên chuốc rượu, câu thần nối thơ 1296
* khi Kiều tiễn Thúc Sinh về thăm vợ
Chén đưa nhớ bữa hôm nay 1517
Chén mừng xin đợi bữa này năm sau 1518
* khi Hoạn Thư bắt Kiều dâng rượu:
Vợ chồng chén tạc chén thù 1835
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi 1836:
* khi Kim Kiều tái ngộ làm lễ cưới:
Động phòng dìu dặt chén mồi 3135
Bâng khuâng duyên trước ngậm ngùi tình xưa 3136
khi Kim Kiều đổi duyên chồng vợ ra tình bè bạn:
Khi chén rượu khi cuộc cờ 3223
Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên 3224
*Nguyễn công Trứ trong bài Hàn Nho Phong Vị Phú:
Vạn tống nhất sinh chung hữu tữu
Sáng mồng một rượu say tuý lúy, tiêu khiển một vài chung lếu láo
Tú Xương: Say sưa nghĩ cũng hư đời
Hư thời hư vậy say thời cứ say
Vũ Hoàng Chương cũng có thơ say:
Em ơi lửa tắt bình khô rượu
Đời vắng em rồi vui với ai
*Dương bá Trác: bài Hồ trường:
Chí ta ta biết, Hồn ta ta say
Nam Nhi sự nghiệp như hồ thỉ
Hà tất cùng sầu đối cỏ cây
Trên đây đã trình bày sự đam mê nghiện ngập đối với rượu và những tác hại của nó. Trong Phật Giáo việc cấm uống rượu là một trong 5 giời cấm và cho rằng rượu là nguyên nhân của mọi tội lỗi và bệnh hoạn. Nhung dù sao việc đam mê rượu vẫn là một thực thể, một bản chất của con người., khi có thể nếu không nói là không có bao giờ bài trừ được, phải chừa một kẽ hở vì nghĩ cho cùng trên một khía cạnh nào đó rượu chè vẫn thể hiện nét văn hóa đặc biệt của con người mặc dù hại nhiều hơn lợi.
|